Chương 1

Tất cả bắt đầu vào một sáng Chủ nhật…

Tôi phải ra ngoài để mua mấy thứ lặt vặt. Chóp ngòi của cây bút chì G [note3025] luôn được dùng cẩn thận rốt cuộc cũng đã tới giới hạn của nó. Tôi còn cần một xấp giấy than, và cũng tự dưng có một nỗi khao khát khó hiểu về một chiếc com-pa mới.

Sau khi hoàn thành việc mua sắm ở tiệm tạm hóa quen thuộc tôi quyết định ghé vào một cửa hàng điện tử. Đã bắt đầu nghĩ về việc vẽ trên máy vi tính nên đi coi giá cả một chút cũng là việc nên làm. Dù cũng có một cái không dùng ở nhà, nhưng dung lượng quá nhỏ của nó lại không phù hợp để tôi có thể thoải mái mà vẽ vời.

Ai cũng bảo máy tính giảm giá liên tục nhưng bằng ấy vẫn là quá khả năng so với túi tiền của tôi. Nếu còn phải cố thêm một cái tablet [note3026] để cho đủ bộ thì rõ là không tưởng. Fuku-chan chắc là biết cách để kiếm đồ rẻ, nhưng khi nào nó còn chưa thấp hơn một nửa giá hiện tại thì tôi vẫn chỉ biết ngắm nhìn qua cửa kiếng.

Hy vọng dấn thân vào kỉ nguyên số [note3027] cùng với hoài bão cá nhân hơi bị chùng xuống, tôi rời khỏi cửa hàng và ngay lập tức một gương mặt thân quen xuất hiện.

“Ô, chẳng phải Ibara đây sao? Lâu rồi không gặp!”

Nếu người ấy ngay lập tức nhận ra thì tôi cần một khoảng lâu hơn để định hình lại. À, đó là một người bạn hồi sơ trung, Ikehira. Vì đã nhuộm tóc và trang điểm nên ban đầu tôi chẳng nhận ra cậu ấy.

Hồi sơ trung, Ikehira đã luôn cố gắng kết thân với mọi người trong lớp và cũng chẳng lòe loẹt như bây giờ. Không hẳn chỉ là màu tóc nhuộm hay phấn trang điểm, tôi cảm thấy cậu ấy đã thay đổi.

“A, lâu rồi không gặp.” Tôi vừa vẫy tay vừa nói. Chúng tôi không phải bạn thân nhưng quan hệ thì không xấu ở bất kỳ phương diện nào. Ikehira chỉ là một người bạn-bình-thường-vô-tình-chung-lớp vào năm ba sơ trung. Nhưng, đúng như hình dung, gặp mặt sau một khoảng thời gian dài cũng khiến tôi không khỏi hoài niệm.

“Đang làm gì thế?”

“Tớ đang định mua một cái máy vi tính.”

“Woa! Loại nào?”

“Cái nào cũng mắc kinh khủng, chắc lần sau tớ sẽ quyết định.”

“Thế à? Cái nào cũng mắc sao? Ha!”

Ikehira đáp một cách đầy cường điệu trước khi nhìn vào cái túi xốp của tôi.

“Vậy cậu đã mua gì nào?”

“Ưm, là…”

Bị hỏi một câu không ngờ tới làm tôi đơ họng. Vẽ manga là một bí mật tôi luôn giữ kín với bạn của mình hồi sơ trung. Những người duy nhất biết là Fuku-chan, Oreki cùng vài người bạn tốt khác. Đó chắc chắn không phải việc xấu, nhưng biết được thì không ít thì nhiều họ cũng sẽ hỏi “Cho mình coi được không?” cho mà xem…

Và thế thì xấu hổ chết!

“Bút thước ấy mà.”

Đó không phải là lời nói dối.

Và thay vì một lời bình phẩm u ám, Ikehira gật đầu với một biểu cảm vô tư lự.

“Ồ, dĩ nhiên rồi. Ibara luôn là một người giỏi mà!”

Nếu những lời đó được nói vào hồi sơ trung thì chúng sẽ mang rất nhiều ẩn ý…

Khi sự ghen tị với những người điểm cao trộn lẫn với sự mặc cảm của những người điểm thấp, một sự chán nản khó tả nổi nhất định sẽ sinh ra.

Tuy nhiên, giọng nói của Ikehira rất nhẹ nhàng mà vô tư. Tôi chẳng nên nghĩ ngợi gì nữa. Dù không tự xem mình là giỏi, nhưng trường cao trung của tôi khó vào hơn nhiều so với Ikehira – giờ mà làm bộ khiêm tốn chỉ làm người ta khinh mà thôi. Đã hơn một năm từ ngày tốt nghiệp trường cũ và giờ chúng tôi lại ở đây, có một cuộc trò chuyện bình thường.

Có lẽ chúng tôi đã trưởng thành hơn một chút rồi.

Sự thật trong cái túi của tôi hầu hết là những thứ không phục vụ cho học tập mà là những “bút thước” đặc biệt. Tôi vẫn cảm thấy mình đã nói dối, và có hơi tội lỗi khi hỏi ngược lại:

“Còn Ikehira mua gì thế?”

“À, đáng ra là một cái máy quay phim, nhưng tình hình là giá mắc hơn một ngàn yên so với dự kiến của tớ.”

“Một cái máy quay?”

“Chính xác!” Cậu ấy cao giọng. “Cậu biết không, tớ đang đánh trong ban nhạc đó nha. Nhưng mà… dở tệ. Vậy nên tớ quyết định tự quay mình khi tập luyện. Hơi bị siêng quá hả?”

Tôi cười đáp lại. Nếu chủ đề của cuộc nói chuyện là về vẽ truyện tranh, thì có vô số người ưỡn ngực tuyên bố “Tôi muốn vẽ” nhưng chẳng bao giờ bỏ thời gian ra mà tập luyện. So với họ thì Ikehira khá là siêng đấy.

“Cậu chơi gì?”

“Bass [note3028] . Nhưng mà, ca sĩ chính vừa bỏ rơi tụi này…”

Vừa dứt lời, biểu cảm của Ikehira đột nhiên trở nên tươi tắn.

“Đúng rồi! Ibara hát hay lắm mà! Cậu đã vào CLB nào chưa?”

Thế quái nào nó lại thành chủ đề được nhỉ?

Tôi giỏi hát cơ á? Cái sự nhầm nhọt này từ đâu mà ra vậy? Lý do duy nhất tôi có thể nghĩ tới là về việc mình đã từng chỉ huy để lớp hợp xướng một lần, do chả ai muốn gánh cái trách nhiệm đó.

Tôi bèn đáp lại đầy cay đắng:

“Có có, có chứ. Tớ bận tới nỗi không có thời gian về nhà nghỉ luôn. Và sẵn tiện đính chính là tớ chưa bao giờ hát hay cả.”

“Hả, thật sao? Là một CLB thể thao à?”

“Không. Là một CLB về văn học. Cậu cũng biết vài thành viên trong đó đấy.”

“Ô, là ai vậy?”

“Có Fukube… và Oreki.” Tôi chậm rãi liệt kê ra từng cái tên.

Đáp lại lời của tôi là một cái trừng mắt quá sức kinh ngạc. Đã quá trễ để rút lại rồ-

“Oreki? Cả cái thằng đó sao!” Ikehira la lên đầy tức tối.

Và rồi, dường như là đã hiểu lầm, cậu ấy hạ giọng xuống mà nói:

“Vậy ra đó là tình hình… Oreki cũng thò đầu vào. Thật là xui-siêu-hạng nhỉ?”

“À… ưm…”

Ikehira bước lại gần, nhẹ giọng hơn nữa để gần như thì thầm.

“Dù tớ không biết CLB của cậu là gì… nếu thằng đó lại dở chứng… cậu biết đấy… tốt nhất là đá nó ra khỏi CLB đi. Tớ không thể làm gì để giúp cậu được, nhưng chắc chắn phải có ai đó sẵn lòng giúp cậu một tay.”

Nuốt mớ từ ngữ nặng nề xuống cổ họng, tôi chỉ biết im lặng mà gật đầu một cái.

Sau đó, chúng tôi tán gẫu thêm một chút trước khi vẫy tay chào tạm biệt. Trên đường về, tôi không thể cản nổi tâm trí mình hướng về Oreki.

Phản ứng của Ikehira không phải là một sự làm quá. Vào năm ấy, tất cả học sinh năm ba sơ trung Kaburaya đều có lý do để ghét bỏ Oreki.

Hay nói đúng hơn, tất cả học sinh sắp tốt nghiệp năm ấy đều lý do để ghét cậu ta.

Những gì xảy ra lúc đó tôi chưa hề quên. Nhưng…

Theo từng bước chân, tôi như vẫn còn nghe loảng thoảng lời nói nhẫn tâm, cay độc của Ikehara. Sự việc ấy chắc chắn phải diễn ra gần ngày lễ tốt nghiệp, tôi nhớ vậy, nhưng không phải vào tháng một hay tháng hai. Trí nhớ của tôi có thể hơi lờ mờ một chút, nhưng có vẻ nó đã xảy ra vào những ngày cuối cùng của tháng mười một.

Chương 2

Đó là một truyền thống của trường sơ trung Kaburaya. Hằng năm, các lớp có học sinh chuẩn bị tốt nghiệp sẽ cùng nhau làm một tác phẩm “kỉ niệm tốt nghiệp”.

Vì tất cả các “thế hệ” đều muốn lưu giữ cái riêng, nên một số lượng không nhỏ các ý tưởng đã vô tình bị lặp lại trong vòng mười năm nay. Những tiền bối đã tốt nghiệp năm ngoái đã để lại tác phẩm “Trồng cây” của mình: một cái hạt được giao cho khoảng hai trăm học sinh sắp tốt nghiệp năm ấy, truyền từ tay người này sang tay người nọ cho đến người cuối cùng, người đó sẽ gieo nó xuống đất. Vâng, cả một khóa sắp tốt nghiệp nghĩ ra được cái “tác phẩm” như vậy… đúng là tôi phải “phục” sát đất.

Tôi không biết mọi người đã đi đến quyết định làm cái đó như thế nào. Có lẽ ít nhiều cũng dính dáng đến nhà trường bởi dự án hiển nhiên sẽ cần tiền. Rút kinh nghiệm từ những gì xảy ra năm trước, vài người có quyền hành trong chúng tôi đã nhất trí làm ra một cái “kỉ niệm tốt nghiệp” đàng hoàng hơn một chút.

“Quyết định cuối cùng của tụi này là một cái gương thiệt bự. Các bạn thấy sao?”

Khi lớp trưởng lớp tôi, Sajima-san, thông báo điều này, một tràng phẫn nộ ồ ạt vang lên từ đầu tới cuối phòng học. Chẳng ai nghĩ đến việc làm một tấm gương cả, chưa nói đến việc kiềm được bao nhiêu người trong trường biết một cái gương được làm như thế nào.

Gương mặt của Sajima-san rất dễ ửng đỏ lên. Vào lúc đó chắc hẳn cậu ấy đang xấu hổ mà vội đính chính:

“Ý tớ là, làm một cái khung cho tấm gương cơ!”

Rồi chúng tôi cũng mường tượng được khi nghe vậy.

Chúng tôi sẽ tạo ra và trang trí một cái khung gỗ cho một tấm gương cao hai mét. Mỗi lớp sẽ đảm nhận một phần gỗ để điêu khắc. Khi hoàn thành, tấm gương và cái khung được trang trí của nó sẽ được để lại ngôi trường sơ trung Kaburaya, để mãi mãi soi đường dẫn lối cho đàn em mai sau.

Nếu bạn có muốn hỏi rằng cái ý tưởng này tốt hay tệ ấy, thì tôi sẽ không ngần ngại chọn cái thứ hai. Một tấm gương thì vẫn tốt hơn một cái hạt, nhưng thành thật mà nói thì nó quá vô dụng, ngoại trừ việc sau vài năm nữa sẽ “may mắn” trở thành đề tài cho ít nhất một câu chuyện kinh dị của trường.

Với quyết định ấy, bước đầu tiên là chọn ra người thiết kế mẫu trang trí.

“Takasu-san bên lớp 2 sẽ nhận phần thiết kế.”

Tôi hiểu ngay lập tức. Ami Takasu đã từng dành giải Bạc trong một cuộc thi thiết kế cấp thành phố. Cậu ấy cũng tự thiết kế linh vật cho những hội thao của trường. Không nghi ngờ gì cậu ấy là người có khả năng vẽ tốt nhất trong tất cả chúng tôi.

Thiết kế của Takasu-san được chia thành mười phần phân đều cho năm lớp. Mỗi lớp sau đó sẽ tự chia nhau ra để điêu khắc những phần của mình.

Một khi tất cả các phần được ghép lại thì cái khung sẽ hoàn thành.

Trông thì có vẻ chẳng mất thời gian và công sức cho lắm. Phải vậy thôi, vì vào thời gian đó chúng tôi còn phải chuẩn bị cho kì thi vào trường cao trung. Đến cuối tháng mười hai là phải đầy đủ khiên giáp – hẳn ai trong chúng tôi cũng nghĩ vậy. Nếu thiết kế quá phức tạp thì sẽ chẳng ai dám làm. Kết quả là không ai phản đối, và nhờ thế chúng tôi bắt đầu xắn tay áo cho dự án tốt nghiệp của mình.

Thiết kế của Takasu-san mang một dáng vẻ rất chính thống – những dải nho leo quấn quanh phần giữa của khung trong khi thân và lá sẽ phủ hết tất cả, và những trái cây mọc ra thành chùm từ những đoạn cong của thân tạo ra một hình tượng đầy xum xuê. Một số đoạn sẽ được trang trí với bọ rùa và bươm bướm, cùng với vài chú chim lượn vòng quanh nhau.

Thật ra tôi có thể nói vậy là vì đã chứng kiến tấm gương khi nó được hoàn thành. Ban đầu tất cả những gì chúng tôi nhận được chỉ là mấy tấm gỗ hình vuông cạnh mười xen-ti-mét và tấm hình vẽ mẫu cho riêng phần mình đảm nhận.

Nhiệm vụ của nhóm tôi lọa lạc ở phía trái khung gương. Sajima-san đã bảo rằng phần trên và dưới được thiết kế rất nhiều chi tiết trang trí, trong khi hai bên thì ít hơn. Vì vậy chúng tôi đã thảo luận và quyết định nhóm nào sẽ chỉ làm đúng một miếng gỗ ở phần trên hoặc phần dưới, và nhóm nào sẽ làm hai miếng gỗ ở mỗi bên.

Trong hai phần được giao được giao cho chúng tôi, một chứa những họa tiết dây leo chằng chịt và vài chiếc lá. Nó được xem là phần dễ hơn trong khi phần còn lại có cả một chú chim đậu hờ trên một chùm nho mọc ra từ một đoạn dây leo.

Tụi con trai trong nhóm rầu rĩ:

“Tại sao tụi này phải làm con chim chứ?”

“Trong khi mấy nhóm khác chỉ phải khắc dây leo thôi, công bằng quá ha.”

Dù bực bội nhưng tôi cũng khó mà trách được. Nhóm chúng tôi đã được giao phần việc thử thách nhất so với các nhóm kia. Trên phương diện “công bằng” thì đúng là có lý do để tức tối…

Nhưng mà,

“Ngay từ đầu có ai nói là sẽ công bằng đâu, đúng không?”

Một lời đáp trả hoàn toàn hợp lý, thường thì tôi phải là người làm như vậy.

Nghe thế tụi con trai liền trật tự. Khi nhận ra mình không phải tự làm hết những thứ này chúng chắc hẳn đã mừng thầm trong bụng. Thiết kế phức tạp, thời gian giới hạn và cả một kì thi đang chờ đợi – xét trên những yếu tố ấy, thì việc để tụi con trai chưa có chút kinh nghiệm gì về điêu khắc làm việc này quả là một rủi ro quá lớn.

Fuku-chan đã từng nói rằng điều tôi quý trọng nhất là “Công bằng”. Vì không muốn chủ đề của cuộc bàn luận hướng về bản thân nên hồi đó tôi đã phớt lờ những từ ngữ ấy.

Tuy nhiên, giờ nghĩ lại thì tôi đã nhận ra. Rõ như trăng rằm rằng Fuku-chan thực sự rất hiểu tôi…

Nhưng ở thời điểm phải nhận một phần việc không công bằng từ cái “kỉ niệm tốt nghiệp”, tôi đã không thể làm gì hơn ngoài việc chấp nhận. Cũng may, tôi có thể được xem là có chút tài về điêu khắc cộng với việc Mishima, một cô bạn là thành viên CLB Nghệ Thuật cũng ở trong nhóm. Chuyên môn của cậu ấy là chạm khắc, nhưng vẫn đủ vượt trội so với tôi về khoản điêu khắc [note3029] . Hai miếng gỗ vuông chả là gì đối với hai chúng tôi cả - dù, phải thừa nhận rằng việc học của chúng tôi có bị xao nhãng trong quá trình làm việc.

Trước đó Mishima và tôi chưa bao giờ trò chuyện. Có thể là không đúng, nhưng tôi luôn thấy Mishima là một người luôn cảnh giác mọi thứ và xa rời mọi người. Tuy nhiên, trong mười ngày làm chung để hoàn thành dự án tôi đã nhận ra mình và cậu ấy từng bước sẻ chia những bí mật của mình cho nhau. Biết ước mơ thành họa sĩ manga của tôi, cậu ấy không hề chọc và cũng chẳng nói ngay rằng tôi có thể làm được. Mỉm cười, cậu nói chỉ nhỏ nhẹ: “Sẽ khó đấy.”

Mishima đã hoàn thành xong việc điêu khắc chú chim. Khi ấy chưa biết là loài chim gì nên tôi bèn hỏi:

“Là chim nhạn à?”

“Tớ nghĩ vậy.”

“Được rồi, vậy đó là chim nhạn.”

Sau ba lời nói chúng tôi đã xem nó là một con nhạn. Còn bây giờ, tôi nghĩ nó phải là một con chim ruồi thì hơn.

Ít nhất là với tôi, góp một phần vào tác phẩm tốt nghiệp năm ấy là một kỉ niệm đẹp.

Có một vấn đề nhỏ tới mức chẳng đáng để nhớ. Khi quá trình điêu khắc của chúng tôi đến những công đoạn cuối, một tên trong tụi con trai chưa bao giờ giúp tới nửa tay tự dung phàn nàn:

“Đấy, rốt cuộc cũng là những đứa giỏi thì làm hết. Dù có là kỉ niệm của cả khối thì ngay từ đầu cũng đừng thúc ép người không biết gì phải làm chứ?”

Tôi nhớ như in những lời này.

Thế thì sao không nói ngay từ đầu, rồi chờ đến lúc mọi chuyện săp xong mới dở chứng? Có rất nhiều thứ muốn phản pháo lại. Rốt cuộc, tôi đã chọn cách ít nữ tính nhất có thể…

“Bị ngu hả?”

Có lẽ tôi đã nói vậy đấy.

Và thế là chúng tôi cũng hoàn thành hai miếng gỗ mà không một sai sót. Phần của tôi không được chau chuốt như của Mishima nhưng chắc chắn là trung thành với thiết kế nguyên bản. Tôi rất thỏa mãn về nó. Các nhóm khác cũng lần lượt hoàn thành công việc của mình. Những dải nho leo uốn lượn cong vồng, những cái lá lo bè che phủ hơn nửa bề mặt, từng miếng từng miếng một dần dần tụ về một chỗ.

Cuối cùng, ngày hái quả từ những công sức của chúng tôi đã đến…

Và sự việc cũng xảy ra vào chính cái ngày này.

Cái nhóm liên tục xin gia hạn thời gian hoàn thành của mình đã đưa ra một thứ làm cho mọi người sửng sốt.

Nhóm đó chịu trách nhiệm với miếng gỗ nằm ở phần dưới khung. Trong thiết kế của Takasu-san, những nhánh nho leo lẽ ra phải được khắc cho thõng xuống và có hơi cong lên một chút. Một nhánh cây vững chắc lẽ ra phải được bắc ngang qua chỗ những đoạn leo bắt đầu chõng xuống. Dù không dễ để làm cho dây leo chõng xuống một cách tự nhiên, nhưng so với “con nhạn” của chúng tôi thì vẫn còn dễ hơn nhiều.

Là thế, nhưng trên tấm gỗ họ đưa ra chỉ có đúng một nhánh leo ngang đuột như cây bút chì.. Không, chẳng thể coi đó là dây leo nổi. Một “cái gậy” hết sức cẩu thả và xấu xí được đẽo ra vắt ngang ngay ở giữa miếng gỗ.

Chẳng có theo một khuôn khổ nào và chắc chắn là kết quả của sự lười biếng. Theo như tôi nhớ, thì khi lớp trưởng Sajima-san nhận lấy miếng gỗ mặt của cậu ta nhanh chóng đỏ au mà gầm lên giận dữ:

“CÁI QUÁI NÀY LÀ SAO? SAO KHÔNG NÓI CHO TÔI BIẾT LÀ CẬU KHÔNG LÀM ĐƯỢC? THẰNG MÙ CÒN THẤY LÀ NÓ KHÁC VỚI THIẾT KẾ!”

Phía bên kia, cậu con trai vừa giao ra miếng gỗ không có chút cảm xúc.

“Vì khắc nó lên rồi xuống phiền phức lắm,” cậu ta đã nói như vậy.

Đó chính là phần của Oreki.

Không còn thời gian để chữa lại chỗ đó. Cái khung phải được lắp lại hoàn tất trước khi gương được chuyển đến. Vô vọng rồi. “Tác phẩm” của Oreki cũng phải được lắp vào.

Tôi cũng góp một tay trong việc lắp các miếng gỗ lại vào nhau. Việc này được thực hiện trong nhà thể thao. Chúng tôi trải giấy báo lên sàn trước rồi mới đặt lên những miếng gỗ từ các lớp. Trên mỗi miếng gỗ đều có đánh số nên chỉ việc theo thứ tự định trước mà lắp chúng vào. Sau khi mọi miếng đã được ghép vào nhau một cách hoàn hảo thì công đoạn tiếp theo là dán lại bằng keo dán gỗ. Cái mùi nặng khiến nó khá nguy hiểm với học sinh nên việc này được giao cho giáo viên. Đeo bao tay và dùng bàn chải, thầy bắt đầu dán từng miếng gỗ chặt vào nhau. Những học sinh đã giúp xếp những miếng gỗ đứng qua một bên mà yên lặng xem thầy làm.

Vào mùa đông thì ngày rất ngắn. Tôi nhớ là vào lúc ấy trời đã chuyển màu đen kịt. Hình như là có tuyết nữa.

Thế rồi công đoạn dán cũng hoàn tất. Thầy chậm rãi ưỡn thẳng lưng mà nói:

“Rồi, xong rồi đó.”

Vì không được đùa giỡn trong khi keo vẫn chưa khô, chúng tôi chỉ đứng tại chỗ mà dán mắt vào cái khung gương đang nằm trên mặt báo. Giờ tự dưng tôi lại thấy thực sự cái việc ghép khung lại không cần nhiều người đến thế.

Nhưng, tôi biết rằng tất cả những học sinh đã ở trong nhà thể thao chiều hôm ấy đã cảm thấy một nỗi hân hoan không thể nói thành lời. Tôi nghe vài cậu con trai đứng cạnh bàn luận:

“Không tệ chút nào.”

“Đồng ý.”

Thực tình, với một thứ được làm bởi một mớ học sinh sơ trung thì cái khung này phải nói là khá đẹp.

Hai phần mà tôi và Mishima đảm nhận nổi bật hẳn trên thành phẩm. Chẳng quan tâm những lời khen ấy có phải giành cho mình hay không, tự tôi đã hoàn toàn hài lòng với thể hiện của mình.

Tuy nhiên, vẫn có những phần không được làm tốt lắm bị lẫn vào – vài nhánh leo lợt lạt vì bị khắc quá mỏng, vài chỗ thì lá không gắn vào được với thân nên trông nó như thể đang lơ lửng. Nhưng mà có tệ đến thế nào đi nữa thì chắc chắn là vẫn còn đẹp hơn “cây gậy” của Oreki.

Thôi thì tôi cũng cảm thấy thoải mái một tí. Với một người xét nét tới từng điểm nối nhau của các nhánh leo thì chắc chắn sẽ sỉ nhục cái nhánh thẳng đuột của Oreki, nhưng cái phần nhỏ xíu ấy không đáng trở thành một lỗi lớn khi nhìn tổng thể cái khung. Hên là miếng của Oreki tọa lạc ở phần dưới, nơi các nhánh leo đều theo một hướng đi ngang nên càng dễ bị bỏ qua. Tới giờ cũng chưa có ai nhìn vào mà nói rằng: “Chỉ có lớp 5 là lười biếng.”

Sẽ tốn từ hai đến ba ngày để keo khô hoàn toàn, có nghĩa là chúng tôi đã làm hết phần việc có thể làm vào ngày hôm đó. Khi chúng tôi vừa dọn xong mớ giấy báo và chuẩn bị đi về thì Takasu-san bước vào.

Dù biết về sự nổi tiếng của Takasu-san, nhưng vì chưa từng học cùng lớp nên tôi không biết mặt cậu ta. Trong tưởng tượng của mình Takasu-san có một thân hình mảnh mai của một nghệ sĩ, thế nên tôi đã không ngờ rằng cậu ta lại có một gương mặt sắc mà cứng rắn đến thế. Tôi chỉ nhận ra khi nghe thấy một người gần đó thì thầm: “Ồ, Takasu-san kìa.”

Cậu ấy không đến một mình, mà được hộ tống bởi ba bạn nữ khác có vẻ là bạn thân. Quát vào một trong những học sinh đang đứng, cậu ta hỏi:

“Thế nào? Xong chưa?”

Giọng của cậu ta suồng sã một cách khó tin. Tôi không thể không cảm thấy một cơn sóng khó chịu ập vào mình, cũng chẳng thể thấy được mối liên hệ giữa những nhánh leo đầy chau chuốt hút hồn người xem với cái giọng cười ấy. Cứ như phải là từ hai người không quen không biết nhau vậy.

Bốn người họ vừa nói vừa cười sang sảng khi tiến lại cái khung gương.

Tôi đã nghĩ là thành phẩm này sẽ đủ làm cho Takasu-san hạnh phúc. Dù là có vài chỗ không được như ý, nhưng ngay đầu chẳng ai nên hy vọng một sản phẩm chắp vá từ cả trăm học sinh là hoàn hảo. Và dù chúng tôi không thể sao chép y chang bản thiết kế nhưng đây là một tác phẫm phù hợp với khả năng của mọi người. Ngoại trừ bọn họ thì tất cả học khác đều im bặt.

Thế nhưng, khoảnh khắc Takasu-san nhìn vào các họa tiết trên khung, nụ cười của cậu ta lập tức đông cứng.

“Ơ…”

Một cảm giác ớn lạnh chạy dọc xương sống khi tôi nhận ra sự thay đổi biểu cảm đột ngột ấy. Trông gương mặt tối sầm tôi đã hiểu được thế nào là “mất hết tinh thần”. Rất nhanh chóng, cậu ta quay lại.

Takasu-san giơ tay chỉ vào một chỗ trên tấm khung mà nói:

“Cái… cái gì ở kia?!”

Chỗ cậu ta chỉ vào không đâu khác chính là tác phẩm trừu tượng của Oreki. Tiếng gào thét của Takasu-san liền vang dội khắp nhà thể thao.

“THẾ NÀY LÀ THẾ NÀO? SAO LẠI THÀNH RA NHƯ VẦY? QUÁ ĐÁNG MÀ! ĐỪNG - CÓ - GIỠN - VỚI - TÔI! THẬT LÀ QUÁ LẮM MÀ!”

Thấy thần tượng suy sụp trước mắt, ba đứa con gái hộ tống ngay lập tức lại gần để dỗ dành. Họ liên tục nói những câu như “Sao vậy?” và “Bình tĩnh nào”.

Nhưng rồi cuối cùng Takasu-san cũng khóc. Cậu ta lấy tay che mặt nhưng cũng ngay lập tức tuôn một tràng thổn thức. Tức tối tột cùng, ba đứa con gái quay lại mà quát vào những học sinh đang đứng im lặng.

“Vậy là có ý gì hả? Ai làm ra cái này?”

“Đây là kỉ niệm cuối cùng của cậu ấy với trường! Các người tốt nhất là nên làm cho coi được đó!”

“Xin lỗi! Xin lỗi Ami mau!”

Nói thế thì cũng có khiến cái người đã làm ra phần đó xuất hiện được đâu? Chẳng ai ở đây có thể giải quyết cho họ cả, và Takasu-san thì vẫn tiếp tục màn sướt mướt của mình. Cậu ta còn chưa chịu dừng mặc cho thầy ra sức dỗ.

Chịu thua, thầy đành hướng về chúng tôi mà hỏi:

“Lớp nào chịu trách nhiệm cho phần này vậy?”

Ngoại trừ Takasu-san, mọi người đều trao đổi với nhau những ánh mắt lo lắng. Trong những trường hợp thế này thì tốt nhất là tôi nên dung cảm một chút.

Giờ nghĩ lại, thì hình như chưa để thầy chờ tới mười giây tôi đã đáp.

“Lớp 5 [note3030] .”

Ngay sau đó là ba cái nhìn trừng trừng đầy giận dữ.

Ba nữ hộ vệ của Takasu-san bắt đầu phun ra những lời đe dọa như “Tao sẽ đánh mày chết” hay “Sao mày không đi chết đi?” Màn chửi rủa chỉ được trấn áp khi thầy lên tiếng bảo vệ cho tôi.

“Ibara không làm miếng gỗ này.”

Trong dự án kỉ niệm tốt nghiệp, sự thiếu trách nhiệm của lớp 5 đã làm cho nhà thiết kế, Ami Takasu, khóc nức nở. Cái tít này đã được lan truyền khắp khối chỉ ngay trong ngày hôm sau. Lớp 5 cũng buộc phải đưa ra tên của cậu ấy, và từ đó người ta biết đến Oreki với tư cách là “kẻ phá hoại”.

Nhiều học sinh trong lớp đã liên tục chỉ trích Oreki.

“Cậu phải chịu trách nhiệm chứ?”

“Đi xin lỗi ngay và luôn!”

“Nhờ ơn chú mà lớp 5 đã có vết nhơ cuối cấp nhé, cám ơn!”

Tên đó phớt lờ sạch sẽ mọi lời nói của họ.

Không ai bảo vệ cho Oreki cả. Trong những tiết nghỉ trưa Oreki rất hiếm khi trong lớp. Là một thủ thư nên tôi biết trong thời gian này cậu ta đến thư viện, không phải để mượn sách mà để đọc cuốn sách của chính mình – luôn luôn là như vậy.

Theo góc nhìn của tôi thì sự việc xảy ra không thể trách một mình Oreki được. Không một ai phải tự mình làm một miếng gỗ cả, đó phải là nhiệm vụ của cả nhóm. Mỗi nhóm trong lớp 5 có sáu thành viên, tức là ngoài Oreki thì phải còn năm người nữa đáng phải chịu một phần trách nhiệm cho miếng gỗ. Rõ rành rành ra thế, vậy mà Oreki lại trở thành cái bia chịu tất. Không công bằng chút nào. Thật lòng mà nói, bất cứ lúc nào thấy Oreki bị mắng bởi chính người cùng nhóm cậu ta tôi lại thấy phát bệnh.

Tuy nhiên, tôi cũng không xem Oreki là một nạn nhân vô tội. Chắc chắn đó là làm sai. Thậm chí tôi còn chưa bao giờ trao đổi ánh nhìn khi cậu ta ngồi một mình trong thư viện nữa.

Chuỗi ngày Oreki chịu đựng cái tội mà mọi người đổ cho mình không kéo dài lâu. Sau sự việc ấy, trường Sơ trung Kaburaya bước vào kì nghỉ đông. Và sau kì nghỉ chúng tôi bắt đầu học kì thứ ba của mình, và sau nữa, chẳng còn ai bỏ sức mà ca thán về cái khung gương hết, đơn giản bởi vì…

… Kì thi đầu vào Cao trung đã ở ngay trước mặt.

Vào tối cái ngày vô tình chạm mặt Ikehira, tôi ngồi trước bàn học trong phòng mà nghĩ về những chuyện đã qua trong yên lặng.

Từ ngày bước vào Cao trung, gia nhập CLB Cổ Điển và có những cuộc đối thoại đầu tiên với Oreki, tôi vẫn để treo mọi thứ liên quan đến cái dự án tốt nghiệp năm ấy…

Dù chưa từng một lần nghĩ cậu ta là người duy nhất sai nhưng, khi ấy, tôi đã tin rằng Oreki không thích làm việc mà cậu ta cho là “phiền phức” nên đã cẩu thả ra một miếng gỗ như thế. Điều đó nói lên rằng cậu ta là một người thiếu trách nhiệm.

Nhưng sau chuyện đó, quá nhiều thứ không ngờ đến đã xảy ra.

Lý do duy nhất tôi gia nhập CLB Cổ điển là muốn được ở gần Fuku-chan hơn. Tôi đã chẳng mảy may quan tâm tới Oreki. Tuy nhiên, sau khi chứng kiến cậu ta bỏ công giải quyết hết việc này tới việc kia tôi bắt đầu ngờ rằng mình chưa hiểu cậu ta nhiều như đã nghĩ. Hay, đúng hơn là từ đầu tôi đã chẳng bao giờ cố để mà hiểu.

Cậu ta đã hợp tác với chúng tôi để tìm ra đáp án cho nỗi ưu tư của Chi-chan.

Và rồi, cậu ta lại tự mình vượt qua những tình huống phức tạp để giúp các anh chị ở một lớp trên. Họ vốn chẳng quan hệ gì với chúng tôi, nhưng cậu ta đã giúp họ hoàn thành bộ phim còn dang dở của mình.

Một lô lốc những sự kiện như thế cứ thi nhau mà diễn ra. Tôi đã hoàn toàn bị choáng ngợp trước sự tham gia và hoàn thành xuất sắc những vấn đề của Oreki. Làm sao mà một gã u ám như vậy lại trở nên năng động như thế? Câu hỏi đó luôn túc trực trong đầu tôi. Nhưng mà, điều dường như là kì lạ nhất với tôi đã xảy ra là một thứ khác.

“…mình nhớ là đâu đó ở đây mà…”

Tôi lẩm bẩm khi đang mần mò trên kệ sách. Giữ cho nó gọn gàng là thành quả của sự chăm sóc cẩn thận của tôi dành cho những quyển sách. Chỉ mất một thoáng để tôi tìm ra cái mình cần.

Kem đá.

Đó là tên một cuốn tập san văn học kì lạ vì chẳng tập trung viết về một chủ đề nào. Cũng nói luôn là năm ngoái, khi phải làm hầu như mọi công đoạn biên tập tôi đã mắc một sai lầm đáng trách trong việc in ấn. Sau sự cố đó tôi đã nhét nó sâu vào trong giá sách mà chưa hề dòm qua lần thứ hai cho đến hôm nay.

Không cần phải lật ra, tôi vẫn còn nhớ phần lớn nội dung của nó.

Và điều đặc biệt kì lạ ở đây là sự tỉ mỉ của Oreki trong bài viết của mình.

Một sự kiện thú vị xảy ra thường rất nhanh chóng triệu hồi được năng lượng và niềm hứng khởi. Một ví dụ dễ chỉ ra là trong một đại hội thể thao hoặc là đám cưới của họ hàng thân thích, cả hai đều là những sự kiện đặc biệt vui. Hay nếu có ai la lên “Chúa ơi, có người chết trong căn phòng kín!” thì người ta sẽ lập tức tới hiện trường với quả tim đập nhanh trong hồi hộp. Đó chỉ là những phản ứng tự nhiên mà thôi. So sánh với điều đó thì việc viết văn là một trải nghiệm hoàn toàn khác. Trong hầu hết các trường hợp khó có thể miêu tả công việc này đầy “hứng khởi” được. Lấy Fuku-chan làm ví dụ vậy, cậu ấy đã phải tiêu tốn khá nhiều công sức để có thể hoàn thành phần viết của mình cho “Kem đá”. Và bởi vì mến cậu ấy, nên tôi mới phải bắt cậu ấy ngồi trong phòng và mắng…

“Tớ đã nói rồi, Fuku-chan à. Nói ngay từ đầu rồi. Cậu có nghe không vậy? Chẳng phải tớ đã bảo cậu rằng chỉ nghĩ mình sẽ viết về ‘một cái gì hay hay’ thì chẳng làm nên cái gì rồi sao? Vấn đề là ở ý tưởng. Dĩ nhiên viết cho hay là điều quan trọng nhưng đó không làm nên một bài văn. Nghe nè, cái mớ cậu viết ra chưa có cái nào hoàn thành cả. Dù nó có hay hoặc là không quan trọng thì cậu vẫn phải viết đến hết. Chỉ vì cậu chẳng chịu nghe nên bây giờ tụi mình mới phải gấp rút như thế đó! Cậu nên hiểu những gì mình đã làm. Có hiểu chưa vậy? Thông minh thì giờ phải hiểu rồi đúng không? Rồi, để tớ giúp cậu về ý tưởng. NGỒI – XUỐNG – ĐÂY!”

Thế đấy.

Tôi sẽ không bảo Fuku-chan là vô vọng, phải nên xem cậu ấy là một trường hợp bình thường. So với ‘Kem đá’ thì việc xuất bản của bên CLB Manga còn… không, tôi không nên nghĩ nhiều về việc đó nữa.

Trở lại chủ đề, Oreki đã có một vẻ mặt thiếu kiên nhẫn khi nói “Đây”, rồi đưa xấp bài viết của mình trong “Kem đá” cho tôi. Khi đó tôi vẫn còn đang thương lượng với nhà in và chưa đưa ra hạn cho việc nộp bản thảo. Không bộc lộ chút cảm xúc gì, nhưng thật tâm tôi đã cực kì bất ngờ. Cái châm ngôn mà cậu ta hay nói mỗi khi muốn tỏ ra mình bảnh – Việc phải làm thì phải làm gọn… phải không nhỉ? Tôi đã luôn xem đó là sự chống chế của một tên lười cho đến khi thật sự hiểu sự trung thành của cậu ta với phương châm của mình.

Oreki sẽ không tránh né những việc phải làm. Có lẽ.

Nhìn lại khoảng thời gian trải qua cùng CLB Cổ Điển, cũng là năm bắt đầu chú ý đến Oreki, tôi bắt đầu nghĩ về sự việc đó một lần nữa.

Tác phẩm tốt nghiệp chiếm một vị trí quan trọng trong toàn thể học sinh năm ba. Oreki chẳng lẽ lại là người lười biếng trong cả sự kiện đặc biệt ấy? Cậu ta hồi đó thảm hại như vậy sao?

Nằm trên giường, tôi trở mình…

“Có gì bất thường rồi.”

Tôi cảm nhận rằng đã có chi tiết bị bỏ sót. Khi ấy, cậu ta đã định làm gì chăng? Liệu nó có chứa ẩn ý gì không? Chỉ lúc này, rất lâu từ sau vụ việc tôi mới đặt ra những câu hỏi này. Tấm gỗ khắc dối đó ẩn chứa điều gì? Chắc chắn phải là thứ khiến cho Oreki hành xử kì lạ như thế.

Dù đã là rất lâu, nhưng tôi muốn tìm ra sự thật.

Chương 3

Vào ngày đầu tiên trong cuộc điều tra nho nhỏ này, tôi đã vượt qua một trở ngại đáng kể.

Thứ hai, sau giờ học tôi đến phòng Địa chất. Vì đây là chuyện của Oreki nên có thể tôi chỉ cần hỏi trực tiếp cậu ta để biết sự thật. Đó là kế hoạch ban đầu.

Người duy nhất trong phòng là Oreki. Nếu là ngày thường thì tôi đã thầm rủa cái vận xui của mình. Nhưng, hôm nay thì lại là một cơ hội hoàn hảo. Như mọi khi, Oreki luôn ngồi bên chiếc bàn thứ ba, đọc một quyển sách với vẻ mặt u ám thương hiệu. Khi tôi vào phòng cậu ta chỉ ngẩng đầu lên dòm một phát rồi trở lại với quyển sách của mình. Quen quá rồi.

Oreki chẳng mảy may để ý khi tôi để cặp xuống mà tời gần cậu ta. Tên này đang đọc cái quái gì thế nhỉ? Tôi nghiêng đầu tính dòm thử nhưng, cứ như một cái cảm biến vậy, Oreki cũng nhẹ nhàng nghiêng quyển sách để che cái tựa. Tôi bèn thôi, và cậu ta cũng đưa quyển sách trở lại bình thường. Oreki sẽ chẳng mang một quyển sách bất thường lên trường, vậy có gì mà phải giấu? Nghĩ thêm về điều đó khiến lời nói của tôi hình như hơi sắc một chút:

“Tôi có một câu hỏi cho cậu.”

Nghe cứ như là tra vấn ấy.

“Một câu hỏi cho tớ?” Oreki chỉ vào mình mà hỏi, tỏ ra khó hiểu. Dù có là cậu ta đi nữa thì quả là tôi cũng chưa ý tứ lắm.

“Ừm, xin lỗi. Không có ý gì nhưng mà, tôi chỉ muốn hỏi cậu một chút về chuyện xưa thôi.”

“Chuyện xưa à…”

Lầm bầm, Oreki đặt quyển sách mình đang đọc lên bàn, không quên úp cái tựa xuống.

“Nếu là về lịch sử thì Satoshi biết nhiều hơn đấy.”

Tôi ít khi nào đủ kiên nhẫn để giỡn kiểu này. Kéo một cái ghế tôi ngồi đối diện Oreki.

“Là về việc đã xảy ra ở trường Sơ trung.”

“Satoshi cũng biết nhiều hơn đấy.”

“Và là về cái kỉ niệm tốt nghiệp của chúng ta.”

Ánh nhìn của Oreki ngay lập tức giao với tôi, lộ ra một sự căng thẳng thoáng qua. Chầm chậm, cậu ta lên tiếng:

“Chẳng phải Satoshi biết về vụ này nhiều hơn tớ sao?”

Hẳn rồi, khi ấy Fuku-chan là thành viên trong ban giám sát. Việc Fuku-chan bị mang ra đây không nằm ngoài dự kiến, tuy nhiên tôi vẫn cảm thấy cậu ta đang cố tránh né… hay chỉ là nghĩ nhiều quá chăng?

Tôi bèn nói thẳng:

“Là về cậu. Còn dám bảo Fuku-chan biết nhiều hơn nữa không?”

“Rồi rồi, hỏi thì hỏi đại đi.”

Tôi nắm tay lại thành nắm đấm mà để lên bàn.

“Cậu chưa quên, phải không? Cái gương lớn ấy, và phần khắc trên khung… chỉ là vì lười biếng thôi đúng không?”

“Ra là thế. Sao khi không lại thắc mắc về chuyện đó?”

“Hôm qua tôi vô tình gặp Ikehira và tụi này đã nói về cậu.”

Nói xong chợt nghĩ chả biết tên này có còn nhớ ai trong lớp không, tôi thêm vào: “Ikehira hồi đó cũng học lớp 3-5 ấy, nhớ không?”

“Ừ, tôi biết.”

“Vậy thì là thật hay không?”

Oreki chớp chớp mắt trước khi trả lời.

“Thật. Chiều cao trung bình, không mập không ốm… mắt đen, và tóc cũng vậy.”

“Cậu nghĩ tôi là đồ ngốc à!”

Nghe thế Oreki hơi nhướn mày một chút. Đặt tay lên quyển sách cậu ta nói:

“Đang đọc tới đoạn hay…”

“Thế sao? Vậy xin lỗi. Lần sau nói cũng được.”

“Không sao.”

Oreki để quyển sách qua một bên trước khi đặt lại tay lên bàn.

“Hồi đó đúng là tôi có gây cho lớp nhiều rắc rối. Cũng lâu rồi, cứ im lìm như vậy thì đúng là không hay nên cho xin lỗi một lần nữa vậy: Tôi xin lỗi.”

Nói xong cậu ta cúi đầu.

Trông cái mặt cam chịu ấy làm tôi càng phát nản. Lẽ nào cậu ta lại thích đùa quá mức như thế? Chúng tôi đâu phải mới quen mới biết? Cậu ta nghĩ rằng hơn mười năm không giúp tôi nhìn thấu cái trò trẻ con này sao? Cái trò cúi đầu này rõ là muốn nhanh kết thúc đối thoại đây mà.

“Tôi không có mong cậu xin lỗi. Thôi thì, hỏi thế này thôi – tại sao lại làm thế?”

“Ưm, tại sao à…”

Oreki im lặng trong một chốc.

“Mỗi người mỗi khác, và không phải ai cũng làm đẹp được như cậu.”

“Tôi đã biết cậu dở từ lâu rồi. Vậy là định chống chế rằng một nhánh dây thõng xuống bị biến thành thẳng là do tay nghề của cậu sao?”

Nếu cậu ta mà “ừ” một cái chắc sẽ bị tôi quát “Vớ vẩn!” vào mặt mất. Hình khắc kì lạ của Oreki chắc chắn không phải do kỹ năng, có chăng chỉ phải là do lười.

“Có một lý do khác, nhưng giờ tôi chẳng nhớ nổi.”

“Không nhớ à?”

“Lúc đó trong đầu chỉ nghĩ tới thi cử mà thôi. Chỉ là một kỉ niệm tốt nghiệp nên có cố sức cũng chả được ai công nhận, thế nên cứ làm đại cho xong… Không nhớ rõ lắm, nhưng có thể tôi đã nghĩ vậy.”

‘Hả?”

Tôi rướn người về phía trước để xem xét kỹ lưỡng cái người trước mặt.

“Ý cậu là bởi vì lo học thi mà cậu không thèm để ý tới việc đó sao? Chỉ thế thôi?”

Tôi không thể chỉ ra đó là lời nói xạo hay không. Thật đáng thất vọng. Tuy nhiên vẫn có thể đọc một chút từ vẻ mặt của cậu ta. Một Oreki thiếu kiên nhẫn đang bắt đầu nao núng.

“…”

Biểu cảm của Oreki chợt thay đổi.

Ai cũng sẽ thấy ngại khi bị người khác nhìn thẳng mặt như thế. Sẽ rất là khó chịu, tôi cũng thế thôi.

Tuy nhiên không vì những lý do đó, chỉ một thoáng thôi mặt cậu ta ửng đỏ lên.

“Oreki.”

“Cái gì?”

Gọi thế nhưng tôi vẫn chưa nghĩ ra cái gì để nói.

“Mặt cậu đỏ à? Tại sao mặt lại đỏ thế? Giận à?”

Cứ thế, tôi cố gắng dùng mọi cách để khơi chuyện từ Oreki, thậm chí còn thúc chỏ vài cái nhưng cậu ta cứ lặp đi lặp lại “Tôi quên rồi” và “Không nhớ”, không thỏa hiệp với mọi giá.

Trong trường hợp này, tôi đành phải quẳng cậu ta qua một bên vậy.

Nếu có thể tìm ra sự thật về chuyện đó, Oreki sẽ không còn đường thoát và có thể đi đến thú thật. Nhưng bằng cách nào bây giờ? Tối đó, tôi lại ngồi vào chiếc bàn học mà hết suy đi rồi tính lại…

Cuối cùng, tôi quyết định rằng hỏi một người bạn đã từng chung nhóm với Oreki là chiến lược tốt nhất.

Chẳng thể nhớ ai đã ở trong nhóm của cậu ta, và những lúc thế này kỉ yếu mới thể hiện được giá trị của nó. Ngoài tấm hình chụp chung cả lớp cuốn album còn chứa cả những tấm riêng của lớp 3-5. Không biết những lớp khác thế nào chứ ở lớp tôi mỗi nhóm sẽ chụp riêng môt tấm. Rốt cuộc những tấm hình đó bây giờ đã có người thèm xem.

Tôi lấy quyển kỉ yếu ra khỏi kệ sách, đặt lên bàn rồi mở ra những trang của lớp 5. Dù thợ chụp hẳn là đã bảo chúng tôi cười nhưng cái mặt u ám của Oreki chắc là không biết cười. Có năm học sinh khác đứng cạnh cậu ta. Chỉ cần một trong số họ học ở trường Cao trung Kamiyama thì tôi sẽ tìm được câu trả lời cho mình.

“A… đây!”

Tìm thấy rồi. Tôi gõ ngón tay vào một người trong tấm hình.

Kei Shibano. Một cô bạn có tính cách thất thường, dễ bị làm cho sầu não và suốt ngày than rằng “Mình phải giảm cân thôi”. Hồi đó cậu ấy quả là có mũm mĩm một chút nhưng tôi không thấy đó là mức đáng để phải lo lắng.

Tôi khá thường xuyên thấy cậu ấy trong trường Kamiyama. Chúng tôi thậm chí còn học chung với nhau trong những tiết thể dục năm trước. Đây quả là vận may vì Shibano là người rất dễ bắt chuyện. Tôi không biết cậu ấy học ở lớp nào nhưng đó không phải là vấn đề. Chỉ chờ đến ngày mai mà thôi, còn bây giờ hãy tạm để chuyện qua một bên vậy.

Hiếm khi có cơ hội để xem kỉ yếu như thế này thì chả có lí gì lại không nhòm qua Fuku-chan một chút. Nghĩ vậy tôi lật qua trang bên. Khi tìm thấy ‘Satoshi Fukube’ phiên bản năm-ba-sơ-trung, tôi để vuột ra một tiếng cười lớn.

“Hahaha! Bé tí à!”

Fuku-chan bây giờ cũng chẳng ít giống một cô bé hơn lúc ấy chút nào. Khó mà thuyết phục người ta tin cậu ấy đang là học sinh cao trung năm hai. Tuy nhiên, không khó để thấy trong bức hình này rằng cậu ấy đã thay đổi. Tôi cũng thế.

Ôi. Vậy là no mắt rồi, lấy bài ra học nào!

Ngày hôm sau, từ hai người bạn tôi biết Shibano đang học ở lớp D. Dễ hơn là tưởng tượng. Biết từ cuối tiết ba nhưng tôi quyết định chờ đến nghỉ trưa tới đi tìm cậu ấy.

Tôi không mang bento [note3031] để ăn trưa. Thật ra, nửa thời gian trong năm tôi chẳng bao giờ thấy đói vào buổi trưa cả. Fuku-chan đã từng bảo rằng “Vì cậu ăn nhiều vào bữa sáng thôi”. Một mặt thì nghe cũng có lý, mặt khác nó khiến tôi có cớ để đá cậu ấy vài cú. Sau vụ đó tôi trở nên thường xuyên bỏ bữa.

Đến cửa phòng học lớp D và nhanh chóng nhận ra Shibano đang ngồi ăn trưa, tôi bèn đợi ở ngoài hành lang và khi đến thời điểm thích hợp mới đi vào. Làm học sinh bao nhiêu năm rồi nhưng tôi vẫn không tránh khỏi một nỗi lo khi bước vào phòng học lớp khác.

“Hửm? Ibara đấy à? Chả thấy cậu qua đây bao giờ. Tìm ai à?”

“Ừm, đúng thế.”

“Vậy cậu tìm ai? Có cần tớ giúp không?”

“Thật ra tớ muốn hỏi cậu vài thứ. Cậu có phiền không?”

Shibano không cảm thấy lạ mà chỉ vui vẻ đồng ý,

“Tất nhiên là không rồi! Qua kia nói chuyện nhé.”

Shibano và tôi kiếm ra chỗ ngồi cạnh cửa sổ. Ai đó vừa mở cửa khiến một làn gió lạnh lùa vào khắp phòng. Tôi không thể không cảm thấy mình cùng từng nói những lời này hồi sơ trung – thứ kỉ niệm lạ thường này làm đầu tôi nhói lên một cái.

“Chuyện gì nào?”

“Chủ nhật rồi tớ gặp Ikehira.”

“Ồ, Ikehira ấy hả? Hoài niệm quá ha. Nghe nói cậu ấy đang chơi trong một ban nhạc phải không?”

Tôi hơi bất ngờ về điều đó.

“Cậu cũng biết à? Có vẻ ban nhạc của cậu ấy đang gặp khó khăn trong việc kiếm ca sĩ.”

“Hửm?” Shibano hơi nhướn mày.

“Vậy là cậu tính hát cho họ hả Ibara? Hay là đang giúp kiếm ca sĩ mới?”

Có lẽ cậu ấy muốn giúp Ikehira nhưng lại sợ cái khoản hát hò. Tôi nhanh chóng vẫu tay mà nói:

“Không, không. Không phải vụ đó. Tụi này nói về cái tác phẩm hồi tốt nghiệp cơ. Cậu nhớ mà phải không, cái khung gương ấy?”

“… À, rồi…”

Như đã hiểu vấn đề, Shibano đưa mắt về một hướng khác.

“Tới bây giờ vẫn còn bàn về vụ đó cơ à? Ừ, là cậu thì cũng dễ hiểu thôi.”

Làm sao để câu có thể đặt câu hỏi đây? Không có nhiều lựa chọn. Tuy nhiên, rốt cuộc thì tôi vẫn xem cái cách nói thẳng vẫn là hay nhất. Tôi chưa hề thích tỏ ra thông thái, hay vòng vo tốn thời gian.

“Vậy lúc đó đã xảy ra chuyện gì?”

Điều tôi ghét hơn là ép người ta phải trả lời một câu chấn vấn, vậy nên tôi giải thích.

“Tớ đang ở CLB Cổ Điển. Oreki cũng vậy. Khi nhắc tới cậu ta thì Ikehira đột nhiên đổi thái độ. Tớ cũng chẳng mong một phản ứng đỡ hơn thế.”

“À, là về Oreki. Ừ, đúng thế. Hẳn là còn vài người chưa hết khó chịu.”

“Nhưng tớ đã nghĩ về điều đó, và tự nhiên thấy nó kì lạ sao ấy.”

Giọng tôi đã từ từ cao lên mà không hề hay biết.

“Nói về Oreki, thì cứ như cậu ta luôn chỉ quẩn quanh trong thế giới của riêng mình, và vì thế không thích làm việc trong một thế giới khác đúng không?”

“Tớ không nói chuyện với cậu ta nhiều, nhưng đúng, tớ cũng nghĩ cậu ta là kiểu như thế.”

“Nhưng tớ không nghĩ cậu ta là một người cố tình lười biếng vào những lúc như vậy… Cậu còn nhớ cái hồi Hội thao trường mình không? Osada hay ai đó bảo là bị đau bụng nên cả đội chạy tiếp sức cứ loạn cả lên.”

Shibano gật đầu, một biểu cảm cay đắng xuất hiện trên gương mặt.

“Dĩ nhiên là nhớ rồi. Tớ là người phải chạy thay cậu ấy mà.”

“Vậy sao? Osada lúc nào cũng cố gắng giúp người khác mà chẳng thèm nghĩ chi cho thấu đáo. Hồi thi hợp xướng cũng thế.”

Thôi chết, chúng tôi đã lan man về những kỉ niệm hồi sơ trung mất rồi! Giờ nghỉ trưa vô cùng ít ỏi nên tôi cần phải dừng lại để bẻ lái cuộc trò chuyện về đúng chủ đề ban đầu.

“Tạm thời kệ cậu ấy đi vậy.”

Tôi khẽ thở dài và hỏi:

“Điều tớ không hiểu là, tại sao Oreki lại là người duy nhất phải khắc gỗ? Đó là việc của cả nhóm mà? Nhưng những gì tớ nhớ thì Oreki là người duy nhất giao ra miếng gỗ vào ngày hôm đó và nhận tất cả sự rủa xả. Chính xác chuyện gì đã xảy ra?”

Oreki không giỏi trong những chuyện này, không cần cậu ta nói tôi cũng biết. Điều mà tôi không hiểu là tại sao cậu ấy lại là người đảm nhiệm việc đó. Trong nhóm tôi thì Mishima và tôi là những người lo việc khắc gỗ. Nếu Oreki mà ở trong nhóm tôi thì cậu ta chẳng cần phải đụng tới con dao ấy chứ.

Câu hỏi này dường như đã gãi đúng chỗ ngứa của Shibano và tôi thật lòng mong như vậy. Cậu ấy không thể nói lời nào, còn sắc mặt thì cứng đơ. Tôi không định đổ lỗi cho Shibano hay bất kì ai khác trong nhóm, nhưng cách hỏi có thể đã làm cậu ấy hiểu lầm…

Dù vậy Shibano vẫn có thể đáp:

“Nếu cậu đã hỏi thì tớ cũng nói thật, đó là ý định của chính Oreki.”

“… Hả?”

“Cậu ấy bảo rằng biết một người có thể giúp hoàn thành việc này nhanh chóng, rồi lấy cả miếng gỗ và bản thiết kế về mình. Tụi này đã tin theo… Nói thế này có vẻ khó nghe, nhưng… khi Oreki nói vậy tụi này thực sự đã rất vui mừng mà đẩy mọi trách nhiệm cho cậu ấy.”

Chẳng khác tình trạng của nhóm tôi là mấy. Ngay khi nghe chúng tôi bảo “Con trai không có làm được đâu”, tụi nó đã để mặc cho chúng tôi một mình làm tất.

“Nên…”

Một tiếng thở dài.

Nếu còn học sơ trung Shibano sẽ không đời nào biết thở dài như thế.

“Nên… nói thật tụi này có lẽ nợ Oreki một lời xin lỗi.”

“… Ra là thế.”

Gật đầu nhưng tôi không định bảo Shibano đi xin lỗi. Cậu ấy có hiểu lầm không nhỉ? Chỉ nhìn sắc mặt thì chẳng biết nổi.

Mùa đông năm ấy Oreki đã một mình giao ra tấm gỗ. Đó không phải công việc giành cho một người. Như vậy là tôi đã đoán đúng, cậu ấy thực sự đã nhờ ai đó hay đại loại vậy.

Tôi còn một câu hỏi khác.

“Vậy người mà Oreki bảo rằng ‘có thể giúp’ là ai?” Hỏi vậy nhưng tôi không mong nhận được câu trả lời. Shibano và Oreki chắc chắn không thể gần gũi hay thậm chí là làm bạn. Cậu ta không chịu nói với ai cũng là điều nằm trong dự đoán.

Xem ra mấu chốt nằm ở người thứ ba trong câu chuyện này rồi đây. Nếu hỏi là ai thì trong đầu tôi chỉ hiện lên có một, đó là những đứa con trai hiềm hoi từng đánh bạn được với Oreki. Tôi chỉ biết có Fuku-chan… Nhưng, Oreki mà tin tưởng để cho Fuku-chan giúp á?

Trong lúc suy nghĩ tôi thấy Shibano tỏ ra lưỡng lự. Đã không có một câu trả lời “Tớ không biết” mà thay vào đó, là:

“Asami Toba.”

“Ai cơ?”

“Một bạn nữ tên là Asami Toba. Đó là người mà Oreki đã nhắc tới.”

Tên của một người lạ. Có lẽ là một người tôi chưa từng gặp trong suốt ba năm sơ trung. Hay là tôi đã quên nhỉ?

“Tớ nghi là bồ của cậu ta.”

Ưm… thực sự là nhớ chẳng ra. Dù trường Kaburaya có ít học sinh hơn hẳn so với trường Kamiyama nhưng con số ấy vẫn trên hai trăm. Có lẽ là mình chưa gặp thật… ớ?

Ngay lúc này, tôi cuối cùng cũng nhận thức được sự tồn tại của những từ ngữ đó.

“Khoan đã, cậu vừa nói gì?”

“Bồ.”

Không thích tự kể lể về mình, nhưng, vào lúc đó, xin phép cho tôi được tái hiện sâu sắc thế quái nào mình lại phản ứng theo một cách khó có thể xấu hổ hơn được nữa. Ngay khi nghe về sự tồn tại của một thực thể mà chỉ nên dùng như một trò giỡn vô lý đến nực cười, tôi đã thét lên “CÁI GÌ!!?” lớn tới mức làm cả lớp người ta im bặt.

Thật là bất ngờ về mình quá đi.

Mọi học sinh trong lớp D bấy giờ chỉ còn biết nhìn vào tôi. Nhanh chóng tôi lấy một tay bụm miệng lại. Không hay rồi, đang giờ nghỉ ngơi mà lại náo loạn. Cơ, nhưng mà, làm sao có thể? Hai đứa có còn đang nói về Oreki không vậy?

Nhận ra tôi vẫn chưa hoàn hồn sau cú sốc, Shibano hạ giọng xuống mà nói: “Có một lần khi tớ hỏi Oreki rằng miếng gỗ đã xong chưa, thì cậu ấy trả lời ‘Còn tùy vào Asami’. Rồi tớ hỏi tiếp là: ‘Asami, ý cậu là Asami Toba đó hả?’ thì cậu ấy tỏ vẻ bất ngờ thấy rõ. Cậu ấy nói rằng đã không nghĩ rằng tớ biết Asami là ai, cậu ấy nghĩ là không ai biết cả.”

“Ưm, thế à, nói sao đây nhỉ… Trí nhớ của cậu tốt thật.”

Đó không phải những gì tôi thực sự muốn nói.

“Tớ cũng bất ngờ khi nghe tên của Asami từ miệng cậu ta, và cũng hết hồn khi biết rằng Oreki hóa ra cũng có người mến. Nhưng mà…”

Shibano nở một nụ cười ranh ma.

“… chưa bất ngờ bằng cậu bây giờ.”

Sau đó cậu ấy lùi một bước khỏi tôi, ám chỉ rằng cuộc trò chuyện nên dừng lại tại đây. Tôi liếc nhìn đồng hồ. Giờ nghỉ trưa sẽ kết thúc sau năm phút nữa.

“Nếu muốn tìm Asami thì cậu có thể ghé qua CLB Nhiếp Ảnh. Từ khi vào trường tới giờ tớ chưa nói chuyện với cậu ta lần nào cả, nhưng đã thấy vài tấm hình hồi lễ hội Kanya.”

Khựng lại một chút, Shibano mỉm cười thêm vào.

“Nhưng nếu muốn biết Asami thực sự ở đâu thì Oreki hẳn là biết rồi chứ, đúng không nào?”

Nếu muốn hiểu lý do đằng sau miếng gỗ khắc dối ấy thì Asami Toba sẽ là một nguồn thông tin quan trọng.

Dù vậy tôi đã không chạy ù tới CLB Nhiếp Ảnh sau giờ học. Thay vào đó, tôi lại phóng lên phòng Địa Chất, nghe rõ độ lớn của từng tiếng bước chân khi leo lên những bậc cầu thang. Khốn thật Oreki à, cứ chờ xem tôi sẽ làm gì với cậu! Những ý nghĩ như “Dù có lên phòng nhưng chắc gì Oreki có mặt ở đó” hay “Sẽ làm gì với cậu ta bây giờ?” lấp một góc trong tâm trí, nhưng tôi cố gạt hết qua một bên khi chân đã bước lên tầng bốn dãy Chuyên biệt. Cánh cửa phòng Địa Chất mở ra nghe một tiếng “xoạch” to tướng.

Oreki có trong phòng, ngồi ở cái ghế quen thuộc của mình.

Nếu cậu ta ở một mình thì tôi đã có thể kẹp cổ và tha hồ xiết cho tới khi đối tượng chịu khai. Nhưng tiếc là không được. Ngồi đối diện với Oreki là một Chi-chan đang mỉm cười. Nhận ra tôi vừa bước vào phòng, cậu ấy giơ cánh tay thon thả lên.

“Ôi, Mayaka-san! Thật là đúng lúc quá! Tớ vừa được nghe một câu chuyện rất có ý nghĩa.”

Đừng nói chuyện khác bây giờ Chi-chan ơi! Nghe tớ nè! Cái… cái tên đó! Hắn…!

Gắng không để những lời đó thoát ra khỏi miệng, tôi hít vào một hơi rất sâu…

Bình tĩnh nào Ibara Mayaka, mày vẫn chưa có chứng cứ rõ ràng cơ mà.

“Ô, là về gì thế?”

“Một trải nghiệm của bà chị tôi khi đi du lịch. Không biết có nên coi là một hành động anh hùng không nữa… Cứ tạm coi đó là một câu chuyện kì cục đi.” Oreki đáp.

Bản mặt rầu rĩ thông thường bỗng trở nên có cảm xúc khi cậu ta nói thế. Dường như vừa nảy ra một ý tưởng gì đó, Chi-chan đặt hai tay lên ngực mà nói:

“Oreki-san, cậu cũng kể cho Mayaka-san nghe nhé. Từ đầu luôn nhé.”

“Từ đầu á?” Oreki đáp đầy đau khổ.

Nhưng Chi-chan dội lại bằng chất giọng đầy hào hứng.

“Đúng thế, từ đầu luôn ấy! Hiểu rõ ngay từ đầu mới làm cho câu chuyện đầy ý nghĩa chứ! Và còn…”

“Còn gì?”

“Thực ra, có vài chỗ trong câu chuyện làm tớ hiếu kỳ…

Vai Oreki thõng xuống, dấu hiệu của sự chịu thua.

“Vậy làm sao để kể lại từ đầu đây…”

“Xin cậu đừng bỏ qua bất kì chi tiết nào chỉ vì đây là lần thứ hai là được.”

Rõ là cậu ta đã định lược đi vài chi tiết. Oreki bấy giờ chỉ biết nhìn Chi-chan với ánh mắt đầy trách móc.

Thấy Chi-chan cười trở lại là một điều tốt. Sau tất cả những gì đã xảy ra từ khi chúng tôi lên năm hai, tôi lại càng cảm thấy đây là một tin lành.

… Làm sao có thể nói về ‘bạn gái’ của Oreki trước mặt Chi-chan cơ chứ?

Nói cho các bạn nghe, có một tỉ lệ rất cao rằng Shibano đã bé cái nhầm. Nếu phải mô tả sự đần đụt của tên Oreki ra làm sao ấy, thì tôi xin mạn phép thí vụ như vầy : Nếu có một cô gái đẹp tuyệt trần đứng ngay trước mặt, chỉ vào mình mà nói “Tui”, chỉ vào ngực và nói “Thích”, và rồi chỉ vào Oreki mà nói “Bạn”, thì hắn sẽ cần ít nhất vài phút để hiểu ra câu nói đó có nghĩa là gì. Kì tích nào có thể làm tôi tin rằng Oreki đang bí mật hú hí thù thì với một ai đó bây giờ?

Chương 4

Tối đó tôi gọi điện cho Fuku-chan.

Câu chuyện của Oreki là một đề tài thú vị đến không ngờ. Cậu ấy nói hết từ cái rủi ro này tới sự cố kia, nhưng, hơn hết Fuku-chan chẳng chịu ghé qua phòng Địa Chất. Lần gần nhất tôi thấy cậu ấy là vào thứ bảy…

Ông trời thấy ghét, đã ba ngày rồi đó!

Chọn cái tên luôn nằm trên cùng trong danh sách nhớ, trước khi chuông điện thoại kịp reng tiếng đầu tiên tôi đã nghe giọng của Fuku-chan.

“Hì yá!”

“Ôi, nhấc máy nhanh vậy?”

Tôi có thể nghe thấy tiếc khúc khích từ đầu dây bên kia.

“Định gọi cho cậu đây Mayaka à. Ai biểu gọi ngay lúc người chuẩn bị nhấn nút chứ?”

“Ra là thế.”

Tôi nhảy lên giường rồi nằm xuống.

“Cậu biết không, hôm nay tớ biết được một chuyện lạ lắm.”

“Hửm? Chuyện gì vậy?”

Liếm môi một cái, tôi trả lời: “Asami Toba. Cậu biết cái tên này không?”

Có một khoảng lặng. Tôi có thể hình dung ra vẻ mặt khó hiểu của Fuku-chan lúc này.

“Ừ, có. Hình như bên CLB Nhiếp Ảnh thì phải. Có môt lần hội trưởng bên ấy gặp một phen đau đầu với cậu ta. Anh ấy bảo rằng chẳng hiểu vì sao, mà bất chấp cậu ta luôn từ chối tham gia bất cứ cuộc thi nào của học sinh.”

“Fuku-chan biết cả hội trưởng CLB Nhiếp Ảnh à?”

“Ừ, tớ biết…”

Cậu ấy biết một người mà tôi không biết, tự dưng điều đó làm tim tôi chùng xuống một nhịp. Ghét ghê. Tôi thở dài, đuổi sạch những thứ cảm giác đó trước khi hỏi tiếp.

“Nghe này. Hình như Toba-san cũng tốt nghiệp từ trường Kaburaya đó.”

“Ừm, đúng là như thế.”

“Cậu có biết gì về cậu ấy không?”

Có người đã nói đó là bạn gái của Oreki-san. Nếu… trong một cơ hội tí ti nào mà điều đó là đúng, hẳn Fuku-chan ít nhiều phải do dự chứ nhỉ?

Thực ra có một phương pháp để moi móc thông tin từ Fuku-chan. Đầu tiên là phải khởi động bằng một chủ đề trông không mấy đặc biệt, sau đó thêm vào từng chút một các câu hỏi để đào sâu nhưng phải thật tự nhiên. Cứ như là chơi trò chơi vậy.

Và lời đáp của Fuku-chan vẫn theo một lộ trình thường thấy và dễ đoán. Tôi chắc là người duy nhất có thể nhận ra giọng của cậu ấy đã nặng nề hơn đôi chút.

“Ừ thì tớ cũng biết chút đỉnh về cậu ấy. Có lý do đặc biệt để phải tìm tới Toba-san sao Mayaka?”

“Ừm, cũng có thể nói thế. Cậu sắc bén thật đó.”

“Dĩ nhiên rồi… Nhưng nếu vậy thì cậu nên cẩn thận một tí.”

Vì tông của Fuku-chan đã chuyển sang một sắc thái nghiêm trọng, tôi lập tức ngồi dậy.

“Toba-san có thành kiến với tất cả học sinh đến từ sơ trung Kaburaya cùng năm với cậu ấy. Nếu cậu muốn có một cuộc trò chuyện thân tình thì tốt nhất là đừng mang những cái gì liên quan tới hồi đó ra.”

Tại sao? Tôi muốn hỏi thế.

Nhưng Fuku-chan đã ngăn không cho tôi kịp lên tiếng. Chỉ sau một khắc giọng cậu ấy đã trở nên hứng chí: “Mà thôi, kệ đi. Tớ muốn nói vụ này nè. Chủ nhật này tớ…”

Sự nhiệt huyết của Fuku-chan không cho tôi cơ hội được chen vào. Ban đầu có hơi miễn cưỡng, nhưng nhanh chóng tôi đã từ bỏ việc để câu hỏi của mình được trả lời.

Chúng tôi không có nhiều thời gian trên điện thoại. Dĩ nhiên là tôi cũng muốn nói về những thứ vui hơn với Fuku-chan rồi.

Học ở cao trung Kamiyama đã hơn một năm nhưng tôi vẫn bất ngờ khi biết được rằng có cả một căn phòng tối [note3032] trong trường. Phòng này nằm kế bên phòng Trù bị Hóa Học, và vì thế nó cũng trở thành phòng họp của CLB Nhiếp Ảnh.

Sau cuộc nói chuyện với Fuku-chan hồi tối qua, nhờ quyển kỉ yếu tôi đã biết được Asami Toba trông như thế nào. Ngoại trừ cặp kiếng thì chẳng có gì có thể gây chú ý từ cậu ấy. Nếu phải nói một điều về thì trông cô có vẻ hơi gầy. Ngoài ra, khi so sánh với tấm hình chụp trong nhóm tôi mới nhận ra rõ ràng một điểm kì lạ.

Trong hình, cậu ấy không cười.

Thôi thì biết được mặt cũng tốt. Khi đến phòng Trù bị Hóa học tôi nhận thấy Asami Toba không ở đó. Người duy nhất trong phòng là một nam sinh có mái tóc xoăn tự nhiên. Dựa vào phù hiệu đính trên cổ áo để biết đây là học sinh năm ba, tôi lên tiếng hỏi anh về việc muốn gặp Asami Toba.

“Ồ, Toba-san à?”

Anh ấy khựng lại, gãi đầu rồi hỏi: “Có gấp không?”

Đây không phải là việc gấp với tôi. Dù đằng sau miếng gỗ của Oreki có sự tình gì thì nó cũng đã kết thúc từ gần hai năm trước. Dù thật lòng muốn biết càng sớm càng tốt nhưng… có thể nói là tôi chưa sẵn sàng để kết thúc tất cả chỉ trong hai ngày.

“Không sao ạ. Nếu không tiện thì khi khác em sẽ đến.”

Tôi đồ rằng Toba-san đang ở trong phòng tối, nhưng lại nghe được anh nam sinh năm ba lầm bầm “Kệ, sao cũng được.” Rồi tươi tỉnh trở lại, anh nói với tôi:

“Em ấy đang ở trên sân thượng.”

“Sân thượng?”

Với câu hỏi đó, tôi tự thấy mình như một con vẹt vừa học được một từ mới.

Dù phải tới hôm nay mới biết đến sự tồn tại của một cái phòng tối, nhưng tôi chắc rằng trong trường chẳng có cái cầu thang bình thường nào dẫn lên sân thượng cả. Phòng họp CLB Cổ Điển vốn nằm ở tầng trên cùng. Để từ đó mà lên sân thượng phải trèo lên một cái thang sắt. Đầu trên của thang là một cánh cửa cũng bằng sắt trông rất chắc chắn. Dù chưa từng trèo lên nhưng tôi biết cánh cửa đó bị khóa.

“Ừ, sân thượng. Đừng nói với ai nhé… em ấy có chìa khóa.”

Chiếc chìa ấy được lưu truyền trong CLB Nhiếp Ảnh hay là của riêng Asami Toba nhỉ? Tôi không bỏ thời gian quan tâm tới câu hỏi đầy nghi hoặc đó. Cảm ơn xong, tôi liền phóng qua dãy hành lang quen thuộc hướng về khu Chuyên biệt. Không phải vì háo hức muốn gặp Toba-san mà vì chẳng mấy khi có cơ hội được lên sân thượng.

Nói thế này chắc là ngớ ngẩn, nhưng nếu liệt kê ra những thứ thích nơi cao thì chắc chắn có hai thứ - khói và Ibara Mayaka tôi đây.

Lên đến tầng bốn tôi nhận ra phòng Địa Chất đang khóa. Không có ai à? Oreki đã xuất hiện hai ngày liền nên chắc là hôm nay cậu ta đã về từ sớm. À, có lẽ cũng sắp tới lúc Fuku-chan đến đây rồi. Tí nữa tôi sẽ quay lại kiểm tra.

Tôi dừng ở chân cầu thang. Cái thang hóa ra chỉ được để tựa vào bức tường sơn màu trắng. Luôn thấy nó ở đó nhưng dĩ nhiên là tôi chưa từng thử trèo lên. Ngẩng đầu, tôi thấy cánh cửa sắt đang được để mở hé. Có người trên đó.

“… Được rồi.”

Tôi hơi nắm bàn tay lại, lấy tinh thần trước khi nắm chặt vào bậc thang.

Không có luật thành văn nào cấm lên đây nhưng không khó để tự hiểu sân thượng là một nơi không chào đón học sinh. Mặt khác, dù chưa từng dành cho sự quan tâm đặc biệt nào nhưng tôi vẫn nhớ là không có thanh chắn nào trên sân thượng trường Kamiyama cả. Nếu giáo viên bắt gặp học sinh lảng vảng trên đây thì rõ là người đó sẽ bị kỉ luật nghiêm, và số phận của chiếc chìa khóa CLB Nhiếp Ảnh đang sở hữu chắc không cần phải nói. Nghĩ về việc này tôi lại càng leo lên nhanh hơn.

Như đã lường trước, leo lên một cái thang dựng đứng cần khá nhiều sức ở cơ vai. Những thanh ngang như ngày càng ép chặt vào bàn tay của tôi. Người lên trước đã không để lại dấu nhiệt nào ở đây. Từng bước tôi cảm thấy nhiệt độ hai bàn tay mình bị mất từng phần một và điều đó chẳng dễ chịu chút nào.

Cố gắng không bật thành tiếng, vừa leo tôi vừa hô “Hây dô hây dô” trong lòng. Cái thang chỉ có mười thanh. Dù mất không ít sức nhưng nhanh chóng tôi cũng leo lên hết. Đẩy nhẹ một cái cánh cửa sắt mở ra dễ dàng. Hên là chẳng gây ra tiếng động, tôi thở phào nhẹ nhõm.

Vậy ra… đây là sân thượng.

Chẳng có lao công nào lên đây nên trên nền đất chi chít là những vết xỉ đen. Trước mắt tôi là một cô gái đang đứng bên một cái giá ba chân. Tuy nhiên, cô không nhìn vào máy chụp hay thậm chí cử động để thay đổi góc máy. Cô gái chỉ đứng ngây ra đó.

“… Toba-san?”

Vì cảnh cửa sắt không gây tiếng động nên cô gái không nhận ra sự xuất hiện của tôi. Tôi quan sát con người đang từ từ quay đầu lại, nhìn thẳng vào tôi với đôi mắt đen như than.

“Cậu là ai?”

Ngay lúc ấy tôi như có thêm một bài học, rằng chỉ ba từ đã có thể gia tăng sự căng thẳng lên người đối diện như thế nào.

Không nghi ngờ gì người ấy là Asami Toba. Gương mặt chẳng thay đổi chút nào so với trong kỉ yếu.

Tuy vậy tôi vẫn không thể không tự hỏi rằng: Có thật là Asami Toba không? Nhìn trong kỉ yếu cậu ta có thể được miêu tả là “thiếu tính cách”. Một kiểu người mà bạn sẽ quên dù cho có từng đi ngang qua trên một hành lang vắng – đó là những gì tôi đã nghĩ khi nhìn vào gương mặt vô cảm trong cả hai tấm hình. Nhưng người đang ở trên sân thượng lúc này không còn như thế. Dường như tồn tại một bức tường xung quanh dáng người nhỏ bé kia nhằm đánh bật lại bất kì người nào mình không thích – đó là tôi. Không còn một sự thụ động nào hết. Bấy giờ thứ tôi cảm nhận được chỉ là sự trấn áp.

Sau một hồi tôi mới nhận ra cô ấy không còn đeo kính.

Tôi bắt đầu thấy hối hận khi bước vào lãnh địa người khác với một sự hớn hở như vậy. Nhưng đã quá trễ để quay lui. Từ sâu trong dạ dày tôi cố triệu ra một chút bình tĩnh và một xíu dũng khí.

Rồi lên tiếng.

“Tớ là Ibara Mayaka lớp 2-C. Cậu là Asami Toba-san phải không?”

Bị gọi tên, cậu ấy cảnh giác chuyển mắt về hướng khác.

“Hội trưởng bảo cậu lên đây à.”

“Không biết có phải hội trưởng không, nhưng cái anh năm ba tóc quăn đã nói cho tớ về nơi này.”

“Cái đồ…” Cậu ấy lầm bầm đầy bực dọc.

“… vậy, đã biết tôi là ai thì cậu muốn gì?”

“Ưm.”

Nói chuyện dưới bầu trời rộng khiến khoảng cách giữa tôi và Toba-san có vẻ dài ra. Tôi bèn bước tới gần một bước.

“Tớ muốn hỏi cậu vài chuyện. Giờ có được không?”

Một nụ cười mỉa mai xuất hiện nơi khóe môi.

“Đã lên tận đây rồi mà còn hỏi câu đó sao?”

Đúng thế.

“Không thành vấn đề. Muốn hỏi gì cậu cứ hỏi.”

Tôi nhớ tới cảnh báo của Fuku-chan, không được nói về chuyện hồi sơ trung. Nhưng đâu còn lựa chọn nào khác?

“Về cái tác phẩm tốt nghiệp.”

“… Cậu đang nói về cái gì?”

“Kỉ niệm ở trường sơ trung Kaburaya. Cái khung gương ấy.”

Tôi có thể thấy toàn thân cậu ấy như đông cứng. Nghe tới bốn chữ “Kỉ niệm tốt nghiệp” đã làm Toba-san có một phản ứng hiển nhiên. Dù không đọc được đó là gì nhưng tôi hoàn toàn thấy được sự lo âu trong đôi mắt của Toba-san đã tăng lên. Phải ra hết những con bài trước khi cậu ấy có thể từ chối. Tăng âm lượng lên, tôi nói:

“Không chắc Toba-san có biết không, nhưng trong thời gian ấy có một tên con trai đã tự mình làm cho cả khối ghét cậu ta, đó là Oreki Houtarou ở lớp 5. Cũng vì miêng gỗ được khắc quá cẩu thả đó mà Takasu-san, người chịu trách nhiệm thiết kế đã khóc lóc không thôi. Nhưng… dù vậy tớ vẫn cảm thấy có gì đó kì lạ. Oreki là đồ lười , nhưng cậu ta sẽ không cố tình phá hủy tất cả công sức của cả tập thể học sinh năm ba và là nơi lưu trữ mọi kỉ niệm của chúng ta. Cậu ta không vị kỉ đến mức đó. Vậy nên tớ đoán là cậu ta đã che giấu sự thật. Trong quá trình tìm hiểu thì tên của cậu đã được nhắc đến Toba-san à. Oreki, Toba-san và miếng gỗ khắc dối ấy – cái gì liên kết ba chủ thể này lại? Hay là vốn chẳng có liên hệ gì?”

Nghe xong câu hỏi của tôi Toba-san mỉm cười. Không một chút thân thiện hay ấm áp. Nụ cười trên gương mặt lạnh tanh của Toba-san như muốn nói: Mày chả biết cái gì cả, nên mới hỏi một câu nực cười như thế.

Sân thượng lặng gió, không khí ấm và thời tiết thì thật dễ chịu. Vậy mà dường như đang có vài cái gai trên xương sống của tôi.

“Nếu tìm ra thì cậu sẽ làm gì?”

Toba-san hỏi. Chuyện đã qua lâu rồi, xong rồi phải không? Ý cậu ta chắc là vậy.

Không, chưa xong đâu.

“Tớ sẽ đi xin lỗi.”

Nhướn mày, Toba-san lặp lại: “Đi xin lỗi?”

“Ừ. Xin lỗi.”

“Tới ai?”

“Quá hiển nhiên rồi… là Oreki.”

Tất cả mọi người trong lớp đều đã đổ tội cho Oreki vì tội tắc trách, liên tục bắt cậu ấy chịu trách nhiệm vì đã làm hỏng bét kỉ niệm cuối cùng của đời học sinh sơ trung. Từ đó đến tận ngày tốt nghiệp Oreki lại càng xa cách lớp hơn nữa.

Cậu ta chỉ còn một chốn là thư viện… Và dù cũng ở đó nhưng chưa tới một lần tôi thèm hướng mắt về cậu ta.

Rồi tôi cũng tốt nghiệp và hạ cánh an toàn vào cao trung. Một lần nữa chạm mặt trong thư viện cậu ta cũng không khiến tôi quan tâm lấy một chút. Oreki là một tên sống vô mục đích, không đáng tin cậy và vì thế chẳng xứng làm bạn với Fuku-chan chút nào khi chưa hiểu hết tôi thật sự đã tin là vậy.

Và tất cả chỉ tại một nhành leo được khắc ngang đuột. Nếu đó là kết quả của sự lười biếng thì mọi học sinh năm ba đều được quyền khinh ghét cậu ta…

Nhưng, nếu không thì sao?

Toba-san trêu đùa tôi lần nữa.

“Và sao nữa? Cậu ấy sẽ tha thứ à? Cậu có đang bị ảo tưởng không?”

Dường như cậu ấy cũng biết Oreki. Nhìn thấy tôi nhìn thẳng kiên quyết, Toba-san tiếp tục:

“Đã tận lúc này rồi mà cậu còn muốn làm gì đó ư? Nhưng… nếu cậu từng là một trong lũ người có thành kiến với Oreki-san thì đó là vấn đề.”

Khi nói tên của Oreki giọng của Toba-san trông thoải mái thấy rõ. “Bạn gái”, cái từ tôi đã từ chối tin vào bấy giờ lại hiện ra trong tâm trí.

“Toba-san. Với cậu, Oreki-san là…”

“Có lẽ là anh hùng của tôi. Cứ xem là vậy.”

Anh hùng? Oreki á?

Trong lúc này, một nụ cười đã nằm trên gương mặt của Toba-san.

Tôi sẽ tìm hiểu về việc đó sau. Bây giờ, khi bức tường của cậu ấy đang hạ xuống tôi cần phải khai thác càng nhiều thông tin càng tốt. Nghĩ vậy tôi bèn hỏi:

“Vậy về cái khung thì sao?”

“Cái này… có thể coi là một lời nguyền đã bị vỡ từ đó.”

“Chính xác Oreki đã làm gì miếng gỗ vậy?”

Toba-san cười mà nói: “Ai biết? Tôi không có nghĩa vụ phải trả lời tất cả nhỉ? Nếu cậu hỏi về chuyện này trước một năm thôi hẳn là tôi đã rất vui mà kể hết toàn bộ… Nhưng, chỉ một thứ tôi có thể chắc chắn với cậu. Nói rằng ‘có thành kiến với Oreki’ là một tội không thể tha thứ.”

Không còn cơ hội chống chế, tôi bèn chẳng màng tới nữa.

Một cơn gió nhẹ thoảng qua nơi cao nhất trường. Không có thanh chắn khiến chỉ một cơn gió như thế đủ làm tôi rung mình. Toba-san thả lỏng vai, tỏ ra chán nản rồi nói:

“Nếu muốn biết thì tại sao cậu lại không tự mình đến xem cái gương ấy nhỉ? Dù, cậu sẽ chẳng thấy được cái gì nếu cứ đứng thẳng ra thế. Thôi, tôi đang tìm cảm hứng để chụp hình. Cậu đang gây xao lãng đấy. Vậy tôi có thể nhờ cậu rời khỏi sân thượng được không?”

Nói xong, cậu ấy quay đi.

Tôi nghĩ đến nụ cười của Chi-chan về câu chuyện hấp dẫn Oreki kể hôm qua.

“Chờ đã. Một chuyện nữa thôi.”

“… Là gì?”

Đối diện cái nhướn mắt cảnh giác của Toba-san tôi lên tiếng, khẳng định sẽ không bao giờ lặp lại câu hỏi này lần thứ hai.

“Từ đó cậu có gặp Oreki lần nào chưa?”

May mắn là Toba-san không nghĩ quá sâu.

“Tôi muốn Oreki mãi là một anh hùng.”

“…”

“Nếu gặp nhau nói chuyện tôi sẽ thấy tởm lắm, phải không nào?”

Cậu ấy quay đi sau khi nói, khom lưng mà nhìn vào khung ngắm của chiếc máy chụp hình. Tôi hiểu rằng Toba-san sẽ không trả lời bất cứ câu hỏi nào nữa.

Chương 5

Cuối cùng chiếc gương mới là câu trả lời.

Tôi đi xuống nhưng không hướng về phòng Địa Chất. Nếu đã vậy thì thì tôi phải làm gì đây? Dù chẳng muốn thừa nhận nhưng nếu những gì Toba-san nói là đúng, thì việc dùng tên cậu ấy bắt Oreki phải mở miệng, ép cậu ta phải nói ra tất cả sự thật chỉ để tìm lý do cho một lời xin lỗi – quả là chẳng tốt đẹp chút nào.

Tôi thực sự muốn biết Fuku-chan phải nói gì về việc này. Tuy nhiên, nếu liên quan đến cái gương thì ngay từ đầu Fuku-chan đâu có cùng lớp với Oreki và Toba-san? Hơn nữa, nếu Oreki đã cố tình giấu mà giờ tôi lại kể cho Fuku-chan thì thật là ti tiện. Hiện tại tôi phải chịu đựng một mình thôi. Chịu đựng đi.

Vẫn còn thời gian trước khi trường Sơ trung Kaburaya đóng cửa.

Có nhiều nơi mà học sinh Cao trung không được phép vào. Những nơi bất hợp pháp, vô đạo đức hay chỉ là vi phạm quy tắc trường. Mặt khác, cũng có những nơi không hề bị ngăn cấm nhưng chẳng ai muốn tới – ví dụ điển hình là trường Sơ trung cũ của người đó. Tôi thật sự cũng có cảm giác như vậy.

Đứng trước cổng chính trường Kaburaya, tôi quan sát những đóa đỗ quyên và cúc vạn thọ nở rộ trên khoảng đất lối vào mà cảm nhận đôi má đang ửng hồng vì nóng. Đội điền kinh và bóng chày đang tập luyện trên sân, và tôi có thể nghe thấp thoáng bài hợp xướng từ một CLB âm nhạc nào đó. Những hình ảnh này không khác mấy so với trường Kamiyama, thế thì sao tôi lại cảm thấy rất khó để bước vào trường Kaburaya nhỉ?

Lý do quá rõ ràng. Tôi đã tốt nghiệp từ ngôi trường này với cả nụ cười lẫn nước mắt…

Chúng tôi đã không thể quay lại.

Chúng tôi sẽ không thể quay lại.

Tôi kiểm tra vẻ ngoài của mình. Bất kỳ ai đi ngang qua đây hẳn sẽ nhận ra đồng phục trường cao trung Kamiyama. Có nên về nhà để thay bộ đồng phục hồi sơ trung không nhỉ? May mắn, hay đúng hơn là không may, là so với hồi đó tôi chẳng lớn hơn được chút nào. Nhìn chung thì cũng phải lớn thôi nhưng kết quả trên bảng chiều cao luôn khiến tôi thở dài. Không biết mặc lại đồ sơ trung có còn hợp không nữa.

Lắc đầu.

Tôi đang nghĩ gì thế này? Làm vậy có khác gì cosplay [note3033] đâu? Không khéo lại làm người ta nghi ngờ là kẻ gian thì tiêu. Dù không được thoải mái nhưng sự thật những gì tôi định làm chỉ là đi vào một ngôi trường sơ trung, và đó chẳng phải cái gì cần “dũng cảm” hết.

Được rồi, vào nào!

Qua cổng trường, tôi để ý rằng mình đang đi dạt qua một bên.

Có ba lối để vào trường: một cho học sinh, một cho công nhân viên và một để tiếp khách. Đi bằng đường dành cho khách có vẻ không được lịch sự lắm nên tôi đã tính “đột nhập” bằng lối học sinh. Nhưng, nếu làm vậy tôi sẽ không thể đi vào những dãy phòng học vì không có dép dành cho người ngoài ở lối vào này. Thế là dù không được xem là “khách” tôi đành mạn phép đi vào bằng lối đó.

Giá mà có một quầy tiếp tân nhỉ? “Em là Ibara, học sinh đã tốt nghiệp. Em có thể vào trường một chút được không?” “Dĩ nhiên!” Nếu vậy thì tôi đã chẳng phải vào trong lo lắng thế này. Cửa trường mở toang mà chẳng có một ai cứ như muốn nói “Chỉ những ai tâm địa trong sáng mới dám đi vào bằng lối này” vậy. Ba năm học chẳng thể giúp tôi tránh khỏi sự căng thẳng khi đi trên dãy hành lang này. Tôi nhanh chóng bước vào, cởi giày rồi lấy ra một đôi dép đi-trong-nhà màu xanh lá cây có hàng chữ “Trường sơ trung Kaburaya” trên quai.

Tác phẩm của chúng tôi đã được đặt tên là “Tấm gương kỉ niệm”. Nghe không được nổi bật lắm nhưng cũng còn tốt hơn nhiều biệt danh kì lạ khác. Còn học ở đây một học kì sau khi chiếc gương được lắp khung nên tôi biết nó được đặt ở đâu: giữa chân của hai cái cầu thang, bức tường đối diện.

Rất sợ bị bắt gặp nhưng cũng cố bình tĩnh, tôi từ từ đi tới đó.

Ba mươi phút nữa là giờ đóng cửa. Tôi có thể nghe tiếng người nói chuyện dưới sân trường nhưng chẳng gặp ai đi qua hành lang cả. Nếu thấy một cô bé trong bộ đồng phục thủy thủ chắc tôi sẽ nhớ lại mình vào hai năm trước mà chìm đắm trong những kí ức mất. Nhưng chẳng có ai cả, nên tôi đành để tâm trí mình hướng về từ đầu tới cuối cuộc nói chuyện với Toba-san…

Một lời nguyền đã bị vỡ từ đó.

Vậy là sao nhỉ? Nếu nói về một tấm gương bị nguyền thì… như Bạch Tuyết chăng? Thế thì phải là gương thần chứ. Ai lại xem một cái gương hai mặt không hiện lên những thứ quái gở vào ban đêm là gương bị nguyền bao giờ? Chưa nói tói việc ‘Tấm gương kỉ niệm” chỉ có một mặt…

Một lời nguyền đã bị vỡ à?

Theo dòng suy nghĩ tôi đến ngay trước tấm gương mà chẳng gặp một người nào.

… Nó luôn nhỏ như thế này sao?

Đó là điều đầu tiên tôi nghĩ tới.

Nếu là học sinh tiểu học chắc tôi sẽ choáng ngợp về việc cái gương to thế nào so với thân hình nhỏ bé của mình. Tôi tin rằng mình đã lớn lên nhiều nhưng rõ là chậm dần và chậm dần tới nỗi dường như đứng lại từ lần cuối cùng tôi nhìn thấy “Tấm gương kỉ niệm”. Dù vậy, thứ đang treo trên tường tỏ ra nhỏ một cách đáng thất vọng.

Thật ra, không, không nhỏ đâu. Tôi có thể nhìn thấy toàn thân mình trong gương mà còn dư vài chỗ. Hai mét đã được xem là to rồi. Thế thì, nói cách khác, tấm gương trong tâm trí tôi trước ngày hôm nay đã bị thổi phồng lên hơi nhiều.

“Nhớ quá. Cũng phải thôi…”

Tôi đưa một cánh tay ra.

Theo lý thuyết thì tất cả học sinh đã tốt nghiệp năm ấy đã chung tay khắc nên cái khung này. Tôi không thực sự kỳ vọng cao, nhưng vào cái ngày được chứng kiến cảnh từng phần của cái khung được ghép lại, và dù phần quan trọng nhất là dán thì lại nhờ thầy thì trong tôi vẫn trào dâng một niềm tự hào sâu sắc. Chú chim đậu trên mấy quả nho phía trên bên trái tất nhiên là thành quả của Mishima và tôi. Giờ nhìn lại tôi đã có thể khẳng định con “chim nhạn” của chúng tôi thực chất là chim ruồi. Nếu biết từ trước hẳn là tôi sẽ chau chuốt hơn cho cái mỏ của nó rồi.

Dưới tấm gương là một biển tên bằng nhựa. Dòng chữ “Tấm gương kỉ niệm (thiết kế: Ami Takasu)” được in lên trên đó. Năm chúng tôi tốt nghiệp cũng được chú thích vào.

“Takasu-san cũng được lưu danh rồi nhỉ.”

Hồi còn học ở đây tôi đã không để ý tới cái bảng tên. Dù có hơi ganh tị khi tên của Takasu-san sẽ tồn tại mãi mãi trong trường nhưng tôi vẫn thấy may thì đó không phải là tên mình.

Còn một chi tiết mà thực tế khác với trong tâm thức của tôi – những nhánh nho leo xung quanh tấm gương hóa ra rất mỏng. Tôi nhớ là những nhánh leo đã phủ kín bề rộng mười xen-ti-mét của từng miếng gỗ, nhưng thực ra cái nhánh dày nhất trông cũng chỉ hai xen-ti là cùng. Những chỗ trống được lấp đi là bởi những đoạn leo cong và xoắn vào nhau.

“Chắc tầm sáu mươi điểm.”

Tôi thấy mình tự lẩm bẩm. Hồi đó từng ngưỡng mộ tính gần như hoàn hảo của bản thiết kế bao nhiêu, giờ nhìn lại thì quả thật tôi chỉ thấy nó rắc rối một cách không cần thiết. Rõ ràng nhất là những chi tiết rối rắm ở phần dưới cái khung. Những nhánh leo mỏng một cách xơ xác giăng hết khắp chốn, uốn lên lượn xuống rồi có chỗ còn móc vào nhau như những bó rơm. Mấy cái rễ cây và bầy côn trùng chỉ góp phần làm cho toàn cảnh càng trở nên lộn xà ngầu. Nói thế nhưng không nghĩa tôi xem cái mớ bòng bong đó là không đẹp, chỉ là phần trên trông thoáng mắt hơn hẳn mà thôi.

Chuyển.

Lùi một bước, tôi xem xét hai cạnh bên. Nãy giờ toàn chú ý vào khung gỗ khiến tôi làm ngơ trước ảnh phản chiếu của chính mình trong gương. Nó đang nhíu mày và khoanh tay lại.

“… Vậy, đây là cái gương bị nguyền…”

Tấm kiếng tự nó là loại bình thường mà một thầy trong trường đã mua. Có lẽ Fuku-chan sẽ lấy cái gì đó như là Lý thuyết Lỗ nhỏ [note3034] để chứng minh nhưng tôi vẫn trung thành với lý tưởng là nó chả liên quan gì tới bùa ngải cả.

Một lời nguyền ẩn sâu trong từng miếng gỗ.

“Nhưng cậu ấy có nói là ‘đã bị vỡ’.”

Oreki là người đã phá vỡ “lời nguyền” sao?

Giữa mớ leo xoắn tít khắp khung gương chỉ có một đường ngang phè. Mắt tôi liền dán vào đó. Cái nhánh ngang đơ đó rõ là của Oreki.

Lời nguyền.

“Hm…”

Những lời cuối của Toba-san là gì nhỉ? Oreki là người hùng. Cậu ấy sẽ thấy tởm nên không muốn gặp lại vị anh hùng của chính mình. Và rồi… Dù, cậu sẽ chẳng thấy được cái gì nếu cứ đứng thẳng ra thế…

Tôi “sẽ không hiểu”. Cậu ấy bảo nếu chỉ đứng đó thì tôi sẽ không thể.

Cậu sẽ chẳng thấy được cái gì nếu cứ đứng thẳng ra thế.

“Khoan, vậy đâu có đúng?”

Không, không phải thế…

Trong một khoảnh khắc tôi đã nhận ra ẩn ý trong lời nói của Toba-san.

Hàm ý của cậu ấy không phải là tôi sẽ không thể hiểu được sự thật. Thay vào đó, cậu ấy chỉ muốn nói rằng tôi sẽ không nhìn ra sự thật nếu chỉ đứng thẳng ra đó. Tôi không được chỉ “đứng thẳng”, mà phải…

Trồng cây chuối.

… Nhưng vậy thì ‘lộ’ chết…

Nếu có Fuku-chan ở đây thì đã có thể nhờ cậu ấy giữ váy rồi. Vậy giờ hoặc là liều trồng cây chuối, hoặc đứng trên trần nhà bằng một cách nào đó…

“A, hay là thế này đi.”

Tôi lấy chiếc điện thoại từ trong túi ra.

Chọn ứng dụng chụp hình, tôi hướng ống kính của điện thoại vào tấm gương. Trong gương ảnh phản chiếu của tôi cũng làm y như vậy. Nhấn vào nút chụp hình, một tiếng “click” giản đơn vang lên. Khi ảnh chụp hiện lên trên màn hình điện thoại tôi chỉ việc xoay lại mà nhìn.

Đắm trong ánh tà dương dần phủ khắp dãy hành lang của ngôi trường sơ trung cũ. Tôi chỉ còn biết thì thầm.

“… Ra là vậy.”

Chương 6

Phòng Địa Chất học, hôm sau.

Không có Chi-chan ở đây. Oreki, Fuku-chan và tôi là những người ở trong phòng.

Fuku-chan đang luyên thuyên về một đề tài mà có lẽ tôi đã từng nghe trước đây, còn Oreki thì vẫn ngồi ở đó. Tôi nhẹ nhàng đặt tất cả những tấm hình mới in trước mặt cậu ta, không nói gì.

Oreki bất ngờ thấy rõ. Dễ hiểu thôi. Nếu ai đó tự dưng đặt một xấp hình trước mặt thì tôi cũng sẽ bối rối. Cậu ta lặng thinh trong lúc chờ tôi lấy hết hình ra và Fuku-chan cũng vậy.

Những tấm hình này chụp phần dưới cái khung của “Tấm gương kỉ niệm”. Có tổng cộng mười lăm tấm, gồm cả hình miếng gỗ khắc dối của Oreki nữa. In tới mười lăm tấm hình khiến máy in của tôi hiện chẳng còn giọt mực nào. Chủ nhật này phải rủ Fuku-chan đi mua mực thôi.

Nhận ra tôi đã dừng tay, Oreki hỏi:

“Gì vậy?”

Vẫn cố giả ngu tới cùng à?

“Kỉ niệm tốt nghiệp.”

“Ồ, thế à?”

“Cách cậu nói chuyện thực sự làm tôi bực đấy.”

Oreki khẽ gãi cằm.

“Hôm qua tôi đã gặp Toba-san. Oreki, cậu biết Toba-san cũng học ở trường này phải không?”

Đây đúng là một câu hỏi thừa. Ở chung trường hơn một năm mà chưa từng đi ngang qua nhau tới một lần thì cũng lạ.

Tuy nhiên, Oreki là một người kì lạ mà.

“Không. Đây là lần đầu tôi biết đấy.”

“Hả?”

“Cậu ấy có khỏe không?”

“Khỏe” à? Rất “khỏe” tới mức tự tạo khoảng cách với tất cả những người muốn thân với mình đấy! Nhưng, tôi đã hiểu tại sao cậu ấy làm vậy.

“Ừm, cậu ấy cũng khỏe.”

“Vậy thì tốt rồi.”

“Cậu ấy bảo tôi phải trồng cây chuối trước tấm gương.”

Nói xong, tôi xoay ngược cả mười lăm tấm lại. Ngồi cạnh Oreki, Fuku-chan vẫn không hề lên tiếng. Sự im lặng này chỉ có một ý nghĩa: Fukube Satoshi đã biết về chuyện giữa Oreki, Asami Toba và miếng gỗ từ trước.

Dưới góc nhìn thông thường, những tấm ảnh chỉ cho thấy vô vàn nhánh nho leo hỗn loạn. Nhưng, nếu xoay chúng ngược lại thì những hình ảnh hoàn toàn khác sẽ lần lượt xuất hiện.

Một nhánh leo cong tròn, khi nhìn ngược lại, trở thành chữ “e”.

Một đoạn leo gấp khúc, khi nhìn ngược lại, sẽ là chữ “W”.

Sau đó là chữ “h”, rồi thì một chữ “A”… Vì toàn là chữ la-tinh nên phải tốn một thời gian để tôi có thể dịch ra hết.

Mười năm tấm hình cùng nhau thốt lên một lời nguyền rủa.

W – e - (trống) – h – a – t – e - (trống) – A - (gạch ngang) – a – m – I - (trống) – T

We hate Ami – ‘Chúng tôi ghét Ami’. Thật là kinh khủng. Ẩn dấu trong kỉ niệm tốt nghiệp của chúng ta là cái thông điệp này đây.”

Oreki đã không còn làm bộ. Cậu ta khẽ gật đầu và nói:

“Ừ. Tớ cũng thấy vậy.”

“Nhưng, câu này đã có vấn đề.”

“Chính xác.”

“Một kí tự đã bị thay đổi.”

“Đúng.”

“Và đó là phần của cậu đúng không?”

Tôi chỉ vào “dấu gạch ngang” nằm giữa hai kí tự “A” và “a”. Oreki gật đầu lặng thinh.

Không cần bắt cậu ta phải xác nhận thêm nữa. Oreki có lẽ đã biết tôi đã tìm ra điều gì.

Thông điệp mà những nhánh leo phải che dấu lẽ ra là “We hate Asami T – Chúng tôi ghét Asami T.” Nhưng, bởi vì Oreki đã bỏ đi một kí tự nên nghĩa của cả câu đã thay đổi.

Lời nguyền lẽ ra phải dành cho “Asami T” - Asami Toba đã “bị vỡ”.

Lúc này, tôi hướng mắt về Fuku-chan.

“Nè Fuku-chan, hôm qua tớ đã về trường Kaburaya một chuyến.”

“Ồ, vậy mọi người sao rồi?”

“Có gặp được ai đâu? Nhưng tớ có thấy một cái bảng tên bên dưới tấm gương, viết rằng Asami Takasu là người thiết kế.”

“Ồ, vậy à?”

“Fuku-chan, cậu đã nhờ người ta làm cái bảng ấy phải không?”

Fuku-chan và Oreki trao đổi ánh mắt với nhau.

Sao lại không kể cho tôi chuyện này? Họ không nghĩ rằng sẽ có ngày hôm nay, khi tôi có thể tự mình tìm ra tất cả sao? Con trai thật lạ. Không, phải nói rằng con trai luôn là đồ khó hiểu mới phải.

Ami Takasu và băng đảng của cậu ta đã muốn dùng tấm gương để khủng bố Asami Toba. Nếu mâu thuẫn đó đủ trở nên nghiêm trọng thì những lớp khác ít nhiều cũng phải biết. Thế nhưng, tôi không nhớ một chuyện như vậy xảy ra cả. Như vậy nó phải đã xảy ra một cách thầm lặng – có lẽ là từ một nơi ngoài trường như lớp học thêm chẳng hạn. Khi được tin tưởng để thiết kế tác phẩm tốt nghiệp của cả khối, Ami Takasu đã thêm vào đó lời nguyền cuối cùng. Nó sẽ mượn danh của toàn thể học sinh năm ba mà ám ảnh Asami Toba, mà mãi mãi tồn tại như một phần của trường Sơ trung Kaburaya.

“Chúng tôi ghét Asami Toba.”

Không may cho cậu ta là Oreki đã nhận ra điều đó. Phần dây leo mà cậu ấy đảm nhiệm lẽ ra phải uốn lên lượn xuống để thành hình chữ “s” ngược. Nhưng, nếu chỉ thế thì cậu ấy đã không thể biết được toàn bộ thông điệp vì mỗi nhóm chỉ được nhận hình mẫu cho riêng phần của mình. Nghi ngờ, Oreki có lẽ đã tìm tới Fuku-chan. Fuku-chan nằm trong ban giám sát dự án nên hẳn là cậu ta đã có bản mẫu của toàn bộ thiết kế. Oreki và Fuku-chan đã cùng nhau giải đáp được toàn bộ thông điệp nhưng đã quá trễ để dừng dự án lại, vì vậy điều duy nhất họ có thể làm là thay đổi chính cái thông điệp đó.

Không ngạc nhiên khi Ami Takasu-san đã khóc như mưa trong nhà thi đấu lạnh lẽo vào buổi chiều khi chiếc khung mới được lắp vào. Lời nguyền đáng ra phải trù ếm “Asami T” đã, bằng cách nào đó, quay sang trù ếm người mang tên “ami T”.

“Toba-san bảo rằng cậu là người hùng của cậu ấy.” Tôi nói với Oreki.

Rồi chăm chú quan sát cậu ta.

Đúng như dự đoán, mặt của Oreki đỏ hoe. Khi tìm ra sự thật tôi cũng hiểu vì sao mà Oreki luôn tránh né về những chuyện đã xảy ra. Cậu ta đã cứu Toba-san, và chính điều này làm cậu ta xí hổ. Một con người suốt ngày lảm nhảm về “tiết kiệm năng lượng” lại nổi hứng giúp đỡ cho một cô gái, cậu ta không muốn cho ai biết là phải rồi.

Sao đần vậy hả trời?

“Không ngờ rằng hôm nay lại là ngày sự thật được phơi bày ra ánh sáng. Có vẻ như tớ đã đánh giá thấp Mayaka rồi nhỉ?” Fuku-chan nói bông đùa.

Để vuột một tiếng thở dài, Oreki quay sang Fuku-chan mà nói: “Lúc đó, tớ đã nghĩ về việc có nên chuyển nhánh leo thành chữ ‘t’ hay không.”

“Thật à? Ý tưởng không tệ.”

Nếu Oreki chuyển nó thành chữ ‘t’ thì sẽ thành… “Chúng tôi ghét Atami T” à?”

“Nhưng, cậu biết đấy, tớ không hẳn là ghét biển Atami [note3035] cho lắm.”

Không thể tin được, dám xài trò đùa dở ẹt này với tôi à? Gần năm năm chơi thân đã giúp tôi ngay lập tức đọc ra ý định của hai tên quỷ này – Oreki và Fuku-chan đang cố lảng câu chuyện sang một hướng khác. Biết ngay mà!

Không để họ nắm thế chủ động, tôi cao giọng tuyên bố:

“Oreki, tôi xin lỗi! Tôi đã không nghĩ rằng cậu lại làm như thế nên bấy lâu đã coi thường cậu. Tôi thật sự xin lỗi!”

Oreki bấy giờ đã ngượng chín mặt và chỉ biết đảo mắt khắp phòng. Tìm được một quyển sách trên bàn, cậu ta liền chộp lấy với một sự biết ơn sâu sắc. Và rồi, như vị cha sứ đáng kính cầm Kinh Thánh trên tay, cậu ta lắp bắp trong khi tránh ánh mắt của tôi…

“Rồi rồi rồi rồi rồi, cứ giữ mấy tấm ảnh đi… Để ở đây xao nhãng quá!”

Giá mà có cái gương ở đây để Oreki được xem mặt mình lúc này nhỉ.

— HẾT